0,5% và 24%: Những con số tội lỗi.

Posted on Updated on


Trong khi dư âm về cơn bão sữa nhiễm Melamine vẫn chưa làm cho người tiêu dùng hoàn hồn và những bệnh nhi do dùng sữa có độc chất Melamine còn chưa thể lành bệnh thì thông tin về một số sản phẩm sữa bột lưu hành tại thị trường trong nước có hàm lượng chất đạm ghi trên nhãn mác và thực chất cách xa nhau đến ngờ vực khiến dư luận lại một lần nữa bức xúc và người tiêu dùng lại tiếp tục hoang mang, lo lắng đến hoảng hốt.

Câu hỏi đặt ra là tại sao những câu chuyện như thế này cứ nối tiếp xảy ra trong xã hội chúng ta? và đến bao giờ người dân Việt Nam với tư cách là người tiêu dùng được đối xử một cách có trách nhiệm của nhà sản xuất và được các cơ quan công quyền bảo vệ hữu hiệu? Đến bao giờ những đồ ăn, uống của con người được kiểm soát một cách tin cậy?

 

Có phải là tội ác?

Trong lịch sử phát triển của nhân loại ngay từ lúc sơ khai với thiết chế cộng đồng, xã hội còn mông muội thì người ta đã không khoan nhượng với tội ác, có nhiều loại tội ác do đồng loại gây ra cho nhau, nhưng có một loại tội ác mà bất cứ thời kỳ nào, bất cứ xã hội nào, bất cứ dân tộc và quốc gia nào đều không dung thứ đó là tội giết người. Tội ác này, ngày nay hầu hết các quốc gia vẫn đang áp dụng biện pháp trừng phạt là tử hình. Không phải là chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu tội phạm, nhưng tôi nghĩ để hủy diệt con người chung quy người ta chỉ có thể dùng những cách: Gây tác động lên cơ thể bằng ngoại lực thông qua cái gọi là vũ khí hay công cụ khác; Đưa vào cơ thể độc chất bằng biện pháp cưỡng bức hay vô tình cho tiếp xúc với chất phóng xạ, bằng biện pháp tiêm, truyền và phổ thông nhất, dễ thực hiện nhất chính là qua con đường ăn, uống.

Các phương tiện truyền thông ở nước ta liên tục nóng bỏng bởi những thông tin liên quan đến độc chất có trong thực phẩm là thứ vốn để nuôi sống và phát triển con người về thể chất và trí tuệ. Trong vụ phát hiện hàm lượng đạm trong sữa thấp quá mức cho phép và sai số đến không thể tưởng tượng so với số liệu ghi trên bao bì đã được các chuyên gia về dinh dưỡng coi đó là hàng giả, thậm chí họ xem nó còn tác hại cho sức khỏe hơn là sữa nhiễm Melamine, thực tế nhiều trẻ em đã sinh bệnh vì uống loại sữa này. Đấy là chưa có nghiên cứu hay điều tra một cách nghiêm túc về sự suy mòn cơ thể, sự thiểu năng  trí tuệ trẻ em trường diễn nếu các bà mẹ tin vào nhà sản xuất, tin vào sự kiểm soát của Nhà nước mà cứ cho con mình uống sữa này hàng ngày và yên tâm rằng con mình đã đủ dưỡng chất.

Xét trên bình diện tội phạm, sự việc này có thể nói là hành vi hủy hoại sự sống của con người một cách từ từ. Nó phải được gọi tên là một tội ác.

 

 

 

 

Đã đến lúc không thể trông chờ vào lương tri.

Từ lâu lắm, lý thuyết biện chứng đã chỉ ra, vì lợi nhuận cho dù treo cổ người ta vẫn làm. Đất nước ta chọn nền kinh tế thị trường làm con đường phát triển, bên cạnh những mặt tích cực do nó tạo ra về tốc độ tăng trưởng kinh tế, về giải quyết việc làm, về nâng cao thu nhập, về cải thiện đời sống nhân dân thì mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đã bộc lộ rõ rệt trong suốt mấy thập niên qua mà điển hình nhất là sự suy mòn đạo đức trong sản xuất, kinh doanh, là mầm mống và hành vi tội ác có xu hướng ngày một phát triển, tăng cao. Đành rằng, qui luật 2 mặt của một vấn đề là thứ con người phải chấp nhận nhưng bổn phận của các thiết chế cộng đồng – xã hội, của luật pháp là phải quyết liệt tuyên chiến, phải trừng phạt, phải loại bỏ những loại tội ác đó bằng cách tạo ra một bộ máy với những công cụ hiệu quả, đủ mạnh để kiềm chế và triệt tiêu nó.

Tôi cứ loay hoay tự lý giải rằng tại sao xã hội chúng ta không làm được, và làm tốt nhiệm vụ này? Phải chăng chúng ta thiếu tiền, thiếu phương tiện, trình độ của chúng ta không đủ, chúng ta chưa có cơ chế kiểm soát phù hợp để tội ác có điều kiện nảy nở? hay tại những con người, những tổ chức, những cơ quan công quyền có trách nhiệm lơ là chức phận? hay tại những cơ cấu ấy ấy có vấn đề về lương tâm để biết mà làm ngơ, thậm chí tiếp tay cho những hành động tội ác đó được tồn tại?

“Tháng 10-2008, sau khi có kết quả kiểm nghiệm từ Quatest 3, Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng đã gửi kết quả kèm văn bản cho ba bộ Công thương, Y tế và Khoa học – công nghệ, đề nghị các bộ kiểm tra các chỉ tiêu dinh dưỡng thực tế so với nhãn hàng hóa, công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng sẵn sàng phối hợp lấy mẫu, gửi kiểm nghiệm sản phẩm một cách khách quan, nhanh chóng. Tuy nhiên, đến nay chỉ có Bộ Công thương có văn bản phản hồi, còn Bộ Y tế và Khoa học – công nghệ hoàn toàn im hơi lặng tiếng!” (Theo Tuổi trẻ 5/2/2009).

Thông tin trên đây, làm cho chúng ta những người tiêu dùng đơn độc và yếu đuối phải nghĩ thế nào về những cơ quan có trách nhiệm đang tồn tại bằng tiền thuế do nhân dân đóng góp? Đã đến lúc, chúng ta những người tiêu dùng không thể cứ lặng lẽ, cứ cam chịu những hiểm họa liên tục giáng xuống đầu, chúng ta cần lên tiếng mạnh mẽ, cần có thái độ đấu tranh, đối đầu với những hành vi tội ác trong kinh doanh và chúng ta cũng cần bày tỏ yêu cầu chính đáng hay nói rõ hơn là quyền được bảo vệ từ các tổ chức và các cơ quan công quyền. Không có lý do nào để tiếp tục trì hoãn những biện pháp cải tổ cần thiết để kiểm soát, ngăn chặn, trừng phạt những hành vi tội ác đặc biệt là tội ác hàng ngày đang âm thầm hủy hoại con người thông qua đồ ăn thức uống nhiễm độc và giả dối. Không có lý do gì nhân dân là những người tiêu dùng vốn là trung tâm của nền kinh tế xã hội không được thụ hưởng một thiết chế trong đó có tiếng nói và hành động của mình để bảo vệ cuộc sống của chính mình. Trong lĩnh vực ATVSTP, không còn sớm để Nhà nước đưa ra cơ chế để xã hội tham gia, để người dân được quyền kiểm soát và trừng phạt những hành vi tội ác.

Đã đến lúc Nhà nước và cả xã hội không thể tin và không thể trông chờ vào lương tri của nhà sản xuất, kinh doanh nữa.

BS. Minh Tân

Quan hệ thầy trò: Có thể như xưa?

Posted on Updated on


Trước hết tôi xin phép được “rào” trước rằng tôi không phải là người nghiên cứu về  giáo dục cũng như không phải là người làm trong nghành giáo dục, nhưng là người quan tâm đến giáo dục như bao người Việt Nam chúng ta. Nhưng tôi cho rằng quan hệ thầy trò ngày này, không thể và rất không nên như xưa.

Ngày xưa.

Có thể tạm chia lịch sử giáo dục Việt Nam thành các chặng đường:

– Thời Bắc thuộc: Hơn 1000 năm bắc thuộc, giáo dục Việt Nam có thể nói là phiên bản của giáo dục Trung hoa, gắn với các triều đại phong kiến phương bắc. Triết lý Khổng tử, Nho giáo là nền tảng tri thức cơ bản trong thời kỳ này. Mục tiêu của giáo dục thời ấy là đạo tạo ra những người làm quan theo cái gọi là “phụ mẫu, chi dân”, ở góc độ Nhà nước phong kiến, những trường học dành cho con, cháu quan lại được thiết lập, ngoài giáo dục trong trường, lớp vai trò “dòng dõi” và giáo dục gia đình chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoài ra, những người theo sự nghiệp bút nghiên không đỗ đạt, hay những người không thể tiếp tục học lên thường trở về quê mở lớp và nhận học trò, người ta gọi đó là thầy đồ. Cho dù ở hình thức nào, thì tư tưởng “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” vẫn là tư tưởng thống trị và điều chỉnh mối quan hệ thầy – trò. Xuất phát từ mục đích giáo dục, cho nên Nho học chủ yếu dạy cách làm người, dạy các luật lệ trong quan hê, các đạo ứng xử giữa con người với con người trong thiết chế xã hội đương thời như: Quân – thần, phụ – tử, phu – thê, huynh – đệ, bằng hữu, các kiến thức về khoa học tự nhiên và KHXH khác hầu như không được chú ý. Một thầy dạy cho vài trò, có khi thầy đưa nhà mình thành lớp học, vợ thầy thành người bảo mẫu cho học trò, vì là chỉ dạy chữ nên thầy dạy chữ nào trò biết chữ ấy, thêm nữa chữ nho vốn đa hình, đa nghĩa cho nên tùy thuộc vào mức độ xúc cảm, tình thân, sự uyên thâm và cốt cách của người thầy mà học trò được tiếp nhận cái sâu sắc, cái mênh mông, cái biến ảo của những chữ, những điều thầy dạy. Vì thế, ngày ấy người ta nhìn trò biết thầy, bên cạnh dạy chữ thầy còn truyền lại cho học trò cái cốt cách, cái tinh thần và tư tưởng của thầy. Do đặc điểm như vậy, sự gắn bó thầy trò trong tư tưởng, văn hóa và sinh hoạt tạo nên thâm tình không khác gì cha con, mẫu tử. Đó là lý do ngày xưa người ta dạy rằng “mùng 1 tết cha, mùng 3 tết thầy” hoặc thầy mất học trò phải để tang như để tang bố, mẹ.

– Thời thuộc Pháp: Người Pháp đô hộ Việt Nam và họ mang nền giáo dục của họ vào các nước thuộc địa, nhiều trường học được mở ra do hiệu trưởng là người Pháp điều hành, hầu hết thời kỳ này giáo dục kiểu “tây học” vẫn là dành cho tầng lớp trên trong xã hội vì phải đóng học phí cao cũng như đảm bảo các điều kiện khác trong sinh hoạt. Tuy vậy, dưới cái nhìn của giáo dục phương tây, đạo thầy trò trước đó đã có phần thay đổi không khuôn cứng và hà khắc như trước. Thời kỳ này vẫn song song tồn tại cách giáo dục và các lớp học dạy chữ Nho, chữ Hán vì vậy đạo thầy trò truyền thống vẫn còn chi phối quan hệ dạy – học thời kỳ này.

– Thời cách mạng: Sau khi dành được độc lập cho đến những năm gần cuối của thập kỷ 80 thế kỷ trước, Chính quyền cách mạng dưới sự dẫn dắt của Bác Hồ đã đặc biệt chú ý đến giáo dục nhằm nâng cao dân trí, bằng cuộc phát động “diệt giặc dốt” đã làm cho sắc thái giáo dục mang màu sắc khác hẳn. Bên cạnh hình thức giáo dục chính quy còn có hình thức giáo dục mang tính toàn dân như các phong trào bình dân học vụ, người biết chữ dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít. Người thầy lúc này dạy chữ với một tinh thần “cách mạng”, không hề coi đó là một thứ danh vị mà người học phải tôn thờ, phải cung phụng. Ngay cả trong hệ giáo dục chính quy, với triết lý giáo dục của Đảng hầu hết các cấp học không phải đóng tiền, đi học như một lẽ tự nhiên cần phải thế, các thầy cô  nêu cao tinh thần cao thượng, làm tròn sứ mệnh mà Đảng, Nhà nước giao, quan hệ  thầy trò vừa sâu sát, vừa chân tình, vừa phải đạo. Thầy yêu trò, hiểu từng hoàn cảnh, tâm tính của trò và mẫu mực trong lối sống. Trò kính thầy, nhìn thầy với con mắt ngưỡng mộ và cảm phục. Đó là thời kỳ vàng son của nền giáo dục cách mạng, chí ít trong đạo đức thầy – trò. Chính chặng đường giáo dục này đã tạo ra một thế hệ mà hiện tại có thể nói đang nắm trong tay sự nghiệp chính trị và vận mệnh của đất nước.

Ngày nay.

Sau cải cách đường lối kinh tế, từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường kéo theo đó là sự biến đổi mọi mặt của đời sống xã hội, giáo dục cho dù vẫn cố níu giữ những cái đã qua nhưng hình như không thể che chắn nổi cơn gió thị trường. Hầu hết các cấp học phải đóng học phí, người học phải lo từ tờ giấy thi cho đến nơi ăn, chốn ở. Người học và người đầu tư cho sự học không hẳn chỉ là mở mang kiến thức, nâng cao dân trí mà có xu hướng coi đó như một cuộc đầu tư để tạo ra công cụ kiếm sống, vì vậy chọn ngành, chọn trường, chọn thầy không là cá biệt. Mở cửa kinh tế, dẫn đến chấp nhận và tạo thêm những con đường phát triển thu nhập cho nhiều ngành nghề trong xã hội, một số ngành có thu nhập cao hơn hẳn cho dù chế độ Nhà nước giống nhau, giá cả sinh hoạt cũng được điều tiết bởi thị trường,  thực tế này dẫn đến các thầy cô cũng phải tìm cách nâng cao thu nhập, từ chính thức hóa bằng học phí, dạy thêm, dạy nhiều nơi, bằng đóng góp của học sinh đến cách phi chính thức như chạy trường, nâng điểm, chạy bằng vv Như vậy có thể thấy rõ, trong mối quan hệ thầy trò ngày nay đã len lỏi bởi một cơ chế khác, nhà trường là đơn vị cung cấp dịch vụ thông qua đội ngũ thầy cô và bộ máy hành chính, người học là khách hàng chi trả dịch vụ.

Theo tinh thần đó, thầy cô được xem là một viên chức trong bộ máy cung cấp dịch vụ giáo dục, vì vậy pháp luật là công cụ cao nhất điều chỉnh hành vi giáo dục và mối quan hệ thầy, trò, theo đó đạo đức xã hội cũng cần được điểu chỉnh phù hợp với quan điểm của luật pháp. Mối quan hệ này trước hết cần đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, dân chủ, đồng thuận và có trọng tài. Trong khu vực công lập, nhà trường và thầy cô chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, người học phải có bổn phận chấp hành các luật lệ liên quan đến dịch vụ giáo dục và rất nên được trao quyền hạn, hiểu quyền lợi của mình. Nhà nước và xã hội có trách nhiệm nâng cao thu nhập chính đáng và hợp pháp cho thầy cô. Tôi cho rằng cần khuyến khích thậm chí quy định sinh viên xưng tôi với thầy cô còn học sinh các cấp xưng em với thầy, cô như trước đây chúng ta vẫn làm. Xã hội pháp quyền là những gì mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng. Trong xã hội ấy, không thể và không nên lấy đạo đức hay nghi lễ điều chỉnh hành vi của công dân với tư cách là chủ thể xã hội.

Minh Tân

Lẩn thẩn chiều Hà Nội

Posted on Updated on


Hôm nay, Hà Nội lác đác mưa rơi đầu sáng, trời chiều trở mát, thiên nhiên thật nhân từ, sau những ngày nắng oi nồng lại có 1 cơn mưa tắm gội cho thành phố, bỗng dưng tôi xuất hiện cảm giác thèm thu mình trong một quán cà phê tĩnh lặng ngắm Hà nội về chiều. Tìm một quán cà phê cạnh con phố nhỏ tôi ngồi ngẫm ngợi, Hà Nội  hôm nay  bình yên và trong lành đến vậy, có lẽ có một tình yêu HN đang hình thành rõ nét trong tôi, thế nhưng chen lấn cảm xúc dịu  ngọt ấy, trong thẳm sâu tâm thức của tôi có điều gì đó gờn gơn khi nghĩ đến thủ đô, trái tim cả nước.

Long đong hàng rong.

“Sao mà dốt thế không biết” văng vẳng bên tai tôi lời của một bà chủ hàng xôi chè thuộc hàng có thương hiệu của Hà Nội khi bà chứng kiến cảnh dân phòng đuổi bắt mấy chị hàng rong, sọt rau tung tóe trên hè, người chạy như có loạn. Khách vắng, chỉ có tôi và vài người ăn, bà chủ quán quay sang bắt chuyện, giọng bà hơi gay gắt nhưng tôi nhận ra trong đó chứa đựng nhiều cảm xúc, có lẽ bà là dân Hà Nội gốc, tôi hỏi rằng, bà nói ai dốt? Bà ngập ngừng rồi không trả lời, bà chỉ lý giải rằng ai cũng cần có cơm ăn, áo mặc người ta đói người ta phải làm, đành rằng phố xá ai chả muốn văn minh, sạch đẹp, nhưng cái gốc của chính sách là muốn đuổi chỗ này thì phải có chỗ khác thay thế để người ta kiếm sống, làm thế này khác bắt cóc bỏ đĩa”. Tôi ngẫm ngợi, hình như bà ấy có lý.

Nhấp nhô kiến trúc, giao thông như ác mộng

Chả phải lí giải gì nhiều, câu chuyện về quản lý quy hoạch, kiến trúc, xây dựng của Hà Nội là vở bi kịch chưa có hồi kết, nó để lại âm điệu buồn cho bất cứ ai từ người dân thường cho đến các nhà khoa học, từ người dân VN xa xứ đến những ông tây du lịch. Điệp khúc về những con đường chưa mở xong thì những ngôi nhà siêu mỏng, siêu kỳ dị đã mọc lên cứ ngân mãi mà chưa ai biết đến khi nào nó kết thúc. Thành phố càng mở, càng xây càng tạo thêm những miếng vá cho tấm áo kiến trúc vốn đã chằng chịt những vết rách cũ. Không có một bản qui hoạch tổng thể nào được đưa ra đủ ổn định, đủ tầm nhìn trong suốt hơn 50 năm qua  kể từ ngày giải phóng Thủ đô. Những con phố cũ bị băm nát bởi những căn biệt thự được xé ra cho mấy chục hộ, đành rằng thời điểm sau giải phóng việc nó phải thế, vậy nhưng sau khi đất nước thống nhất toàn vẹn, sau cải cách kinh tế lẽ ra HN phải nhìn thấy đó là một khuyết điểm để có hướng khắc phục, nhưng tuyệt nhiên chưa có một biện pháp nào khả thi để bảo tồn và phát huy giá trị của những con phố với những biệt thự thấp thoáng sau hàng cây cổ thụ xanh mát, vốn là niềm tự hào và giá trị của một thành phố được mệnh danh “vì hòa bình”.

Giao thông thủ đô mới thật sự là cơn ác mộng của người dân. Nạn kẹt xe, nạn xe đỗ đầy  đường, nạn xe chiếm hết lối đi của  người đi bộ luôn luôn nhức nhối và sẽ còn nhức nhối hơn sau mỗi ngày. Nhìn dòng xe, dòng người nhíc từng cm một ở một ngã tư, ở nhiều ngã tư khác giữa trời nắng và khô như trong chảo rang của HN tôi bỗng liên tưởng tới cực hình trong tiểu thuyết lịch sử nói về cảnh tra tấn của kẻ thù đối với những chiến sỹ cộng sản trung kiên khi nó dùng bóng đèn công suất cực lớn chiếu thẳng vào đầu. Không có cách nào dãn dân, dãn bệnh viện, công sở, trường học ra ngoại vi thì sự ức chế do kẹt xe, hít khói bụi tiếng ồn sẽ là nguy cơ tiềm tàng làm tăng  số bệnh nhân tâm thần lên mức không thể kiểm soát.

Nguồn nhân lực chất lượng: Lá mùa thu.

Tôi nhớ đến một người thợ sửa xe máy cặm cụi bên con phố sầm uất bậc nhất Hà Nội mà tôi quen biết cách đây 15 năm. Đến bây giờ ông ta vẫn cặm cụi 1 mình, người thợ ấy nắn nót từng động tác bắt một con ốc (bao giờ cũng lót một tấm giẻ trước khi vặn ốc), người thợ ấy chỉ cho tôi rằng cái long đen nhìn thế thôi nhưng nhà SX đã ghi ký hiệu mặt nào phải lắp quay vào trong thì mới đúng, người thợ ấy bình thản tháo tung những chi tiết đã mất hàng tiếng đồng hồ lắp ráp nếu thấy chưa hài lòng, người thợ ấy làm tất  không cần thợ phụ với chỉ một lí do đơn giản rằng không tìm được đệ tử đúng ý và sợ mấy thợ thanh niên thời đại @ hay tự ‘cải tiến” qui trình của các công nghệ đỉnh cao. Người thợ ấy tôn trọng hà khắc qui trình kỹ thuật đến mức ông ta bực dọc chỉ cho tôi thấy cái anh thợ  nào đó lắp sai cái chiều rãnh của chiếc lốp xe. Hình như trong sự lặng lẽ, cần mẫn, mờ nhạt của ông ta trong thế giới phồn hoa này còn chứa đựng một nỗi buồn về sự thiếu vắng những cộng sự đáng tin cậy trong lớp thợ trẻ.

Tôi nhớ về hình ảnh 1 bà cụ cao tuổi bán món bún đậu mắm tôm ở 1 con  phố cổ HN, món này vốn là khoái khẩu của nhiều dân Hà Thành, bà chăm chút từng cọng rau thơm, xét nét người đưa hàng từng sợi bún, đặt mắm tốt ở chỉ một nơi, vì thế gánh hàng ăn của bà luôn luôn chật khách. Rồi một ngày tôi tìm đến nơi,  tự dưng thấy bà treo biển nghỉ hàng, hỏi ra bà bảo vì tuổi đã cao, tôi thắc mắc sao bà không truyền dạy cho con cái, bà thoáng buồn bảo rằng chả đứa nào nó muốn làm cái việc này của tôi. Quay về, tôi cũng thấy trống trải như bà, thế là HN lại mất đi một chỗ ăn với người chủ tận tụy và nghiêm cẩn như thế.

Tôi nhớ về hình ảnh 1 bà cụ chiều nào cũng ra ngồi bán món hoa quả dầm ở góc con phố ít người biết đến của khu HN cổ, con phố Tô Tịch. Khách của bà đông đúc, đủ dạng từ nam thanh nữ tú đến các nữ trung niên dáng vẻ “mệnh phụ phu nhân”, từ cháu bé học sinh đế người cao tuổi và cả tây nữa. Bà thảnh thơi, hồn hậu như bà sinh ra để làm việc này vậy, bà nói với tôi rằng, hàng của bà luôn xuất hiện trong thực đơn chiêu đãi trong nhiều hội nghị của các cơ quan, công sở quanh khu vực, bí quyết thành công được bà nói đơn giản như không thể đơn giản hơn rằng, do bà làm “đúng”, chỉ như vậy thôi nhưng tôi biết rõ bất cứ ai cũng khó mà học được chữ “đúng” này của bà. Chỉ là 1 cửa hàng nép bóng vào mấy m2 chật chội vỉa hè, nhưng bà tạo công việc và nuôi sống gần chục người làm công, bà vẫn  ta thán rằng nếu cứ “xểnh” ra 1 tí là mấy cô, cậu trẻ ấy lại làm sai ý của bà. Tôi lẩn thẩn nghĩ việc làm của bà giá trị hơn nhiều mất ông GĐ TNHH đi xe hơi láng bóng luôn hiện diện ở những nhà hàng sang trọng hay mấy “ngài công bộc” của đân đang hàng ngày ngủ gật trong những căn phòng ấm mùa đông, mát mùa hè kia. Bà cũng buồng vì tương lai không xa chả có ai người kế tục bà.

Đó là những con người tôi đã gặp, đã quen, họ đại diện cho lớp người của HN cũ, lớp người làm nên cái văn hóa Tràng An, làm nên nét thanh tao, lĩnh lãm, chỉn chu cho HN xưa. Họ khác nhau cách kiếm sống, nhưng họ giống nhau ở cái sự nghiêm cẩn, ở cái sự cần cù và cái tâm với nghề, họ giống nhau ở chỗ họ khá cô đơn khi không tìm được ai kế tục. Trong họ tôi cảm được cái hồn người lớn lao. Lực lượng lao động trẻ hôm nay thích làm những chuyện to tát, chuyện đại sự và họ thích làm những việc ít dụng công mà lại nhanh kiếm được tiền, nhiều tiền, họ thiếu một điều căn cốt: Hồn người. Tôi lẩn thẩn nghĩ cái hồn HN đang dần dần mất đi khi những người như họ dần dần khuất bóng.

Hà Nội tín hiệu đang hé mở.

Gần đây những tia sáng đang hé mở khi HN đã xuất hiện thêm nhiều không gian công cộng cho người dân: 1 công  viên hình thành trên khu đất đối diện KS Hilton – Opera HN có lẽ là điểm nhấn tư duy khỏi nếp nghĩ “tiểu nông” trên con đường quy hoạch và phát triển đô thị HN, bởi vị vị trí khu đất này có thể nói đắt hơn vàng 10; thêm vào đó là con đường kè Hồ tây, là sự di dời những con tàu đại diện cho công nghệ ăn uống theo cái gọi là ‘Nhà nổi” trên Hồ Tây; là 2 công viên ở Nhà Chung và Tôn Đức Thắng được hình thành.

Xét cho cùng mối quan tâm của người dân không phải là những con số nhảy múa trong các bản báo cáo tại hội trường sang trọng nào đó về chỉ số phát triển kinh tế…mà  mối quan tâm là ở chỗ họ có thêm không gian chung, có thêm sự trong lành không khí, nguồn nước, có sự ổn định về giá gạo, giá thực phẩm, về việc được thoải mái, dân chủ khi đóng tiền học cho con, về việc Bác sỹ đừng nạt nộ khi thiếu phong bì.

Hà nội sẽ phát triển ngang tầm.

Hà Nội nói riêng và đất nước VN nói chung được bảo vệ, xây dựng bởi dân tộc Việt Nam, một dân tộc anh hùng, 1 dân tộc  thông minh, cấp tiến, dễ hòa đồng. Hà Nội có lịch sử lâu đời với vị trí địa linh, nhân kiệt, Hà Nội sẽ bừng lên khi Hà Nội có được những người trong bộ máy lãnh đạo yêu màu xanh,  bác ái, yêu văn hóa và yêu những điều bình dị của truyền thống như những bà, những cô, những anh đang cần mẫn lao động bằng niềm say mê, tâm đức và trọng danh dự.

Minh Tân

Thư viết trong mưa lũ: Gửi ông Thị trưởng TP Hà Nội

Posted on Updated on


Thưa ông chủ tịch!

Trong khi tôi viết những dòng này thì ngoài kia trời vẫn đang đổ mưa, tôi vừa bơi cùng chiếc xe máy của mình từ nơi làm việc về nhà trên những con đường hàng ngày vẫn đi nhưng hôm nay tất cả đã thành những dòng sông. Xe thì chết, may mà tôi không sao cả. Tôi không biết bằng cách nào thư này đến được với ông nên gửi nhờ tòa soạn báo với hy vọng mỏng manh.

Thật ra không phải lần này đường phố Hà Nội mới thành sông, nhưng vì lần này “thủy tinh” gây nên những thiệt hại quá lớn đối với nhân dân Hà Nội nên không chỉ riêng tôi mà hàng triệu người đều lo lắng, ái ngại trước những mong manh, cơ khổ của cuộc sống đô thị thiếu kiểm soát ở nước ta.

Hình ảnh và tác động của đợt mưa lũ này đối với Hà Nội chắc tôi không cần nhắc lại nhiều, chỉ xin nêu  số người thiệt mạng đã lên tới 17 người, nhiều nhà thiếu lương thực để ăn, giá thực phẩm, rau quả tăng lên mấy chục lần, nhà cửa, công sở, trường học, bệnh viện, xe cộ chìm trong nước.

Ảnh: vietnamnet

Trong nỗi khổ mà nhân dân đang phải gánh chịu này là nỗi khổ mà họ không biết làm thế nào để tránh, để cải thiện, để loại bỏ. Không lẽ tất cả đều phải vin vào số phận để an ủi, để lãng quên? Và ngay cả khi phải cậy nhờ niềm tin vào số phận ấy chúng tôi cũng cố gắng đặt ra sự lý giải, đặt ra những câu hỏi về cuộc sống của con người trong xã hội mình đang sống.

Câu hỏi về hệ thống thoát nước Thành phố?

Tôi được biết dự án tài trợ của Nhật Bản cho thoát nước Hà Nội đã được khởi động cách đây hàng chục năm với số tiền khổng lồ, có thể ngày ấy ông chưa nhận trọng trách trước Đảng, Nhà nước và nhân dân với cương vị người đứng đầu thành phố nhưng có 1 điều chắc chắn rằng bộ máy quản lý của chúng ta có tính kế thừa và ông không thể nào không biết. Với số tiền ấy và thời gian không ngắn như vậy mà tại sao tình hình thoát nước không được cải thiện bao nhiêu không muốn nói là ngày càng tệ hơn.

Ngoài việc kè được từng đoạn những con sông bao quanh Hà Nội, những con sông mà trong sử sách nói rằng nó trong veo, lững lờ trôi điểm tô cho phong  cảnh Hà Thành ngày ấy bây giờ chỉ còn thấy một dòng nước đen ngòm mà bất cứ ai đi qua đều lấy tay che mũi, ngoài việc đào đường bất tử rồi lấp đi vội vã, cẩu thả thì thực chất dự án kia đã, đang làm những gì? Tác động của nó đến việc thoát nước thành phố ra sao? Hiệu quả đến đâu? Trách nhiệm của chính quyền và ngàng giao thông công chính ra sao?

Tôi không biết việc điều hành dự án ra sao, chỉ đơn cử một việc nhỏ mà người dân nhìn thấy, báo chí ghi hình rằng rất nhiều những con đường, những tiểu dự án cống hóa vừa làm xong thì các nắp hố ga thoát nước bị đánh cắp, sau đó là gạch vụn, rác thải từng ngày lấp đầy miệng hố, hiển nhiên như vậy thì nó cũng lấp đầy cống thoát nước.

Ai cũng biết đầu tư cho hệ thống thoát nước là cần nhiều tiền, rất nhiều tiền mà chúng ta không thể có đủ, thế nhưng với cung cách quản lý như vậy thì dù có núi tiền đổ xuống thì tắc vẫn hoàn tắc, ngập vẫn hoàn ngập. Mong ông Chủ tịch mai đây khi nước rút đi, trong khi người dân vật lộn khôi phục lại đời sống, ngẩn ngơ trước thiệt hại thì ông dành chút thời giờ vàng bạc kiểm tra lại cái dự án thoát nước kia và nếu có thể xin ông cho bàn dân thiên hạ được biết.

Ảnh: vietnamnet

Câu hỏi về qui hoạch, thiết kế đô thị?

Tôi đọc bài báo nói về quy hoạch, kiến trúc Hà Nội, trong đó tác giả cho rằng giới KTS Việt Nam kém chuyên môn không đủ năng lực và tầm nhìn để quy hoạch và kiến thiết thành phố. Sau đó nhiều phản hồi của giới trong nghề kêu than rằng oan cho họ quá, họ chỉ được vẽ trên giấy chứ không có quyền gì đưa ý tưởng hiện thân. Họ cho rằng trách nhiệm thuộc về các cấp chính quyền, thuộc về lãnh đạo.

Tôi thiết nghĩ họ đã nói đúng một phần, khái niệm kiến trúc sư trưởng thực chất không hạn hẹp, không khu trú ở vị trí chuyên môn, mà có thể theo tôi ông Chủ tịch mới chính là vị kiến trúc sư trưởng của thành phố này, cho dù ông không hẳn là Kiến trúc sư.

Tôi cũng láng máng hiểu rằng, quy hoạch và thiết kế hệ thống thoát nước thành phố phải đi trước một bước trước khi có thể cho phép nơi này, chỗ kia xây dựng khu đô thị, nhà máy, khu công nghiệp và rằng điều cốt yếu phải xác định được “cốt” của hệ thống thoát nước, nghĩa là đường cống thoát nước ở từng vị trí trong thành phố phải có “cốt” khác nhau theo nguyên lý nước chảy từ cao xuống thấp. Không biết Hà Nội của chúng ta đã bao giờ nghĩ đến hoặc đã làm được gì để xác định chỉ số này?

Tôi đồ rằng hệ đường cống thoát nước của chúng ta giống như cái túi mà phần đáy lại nằm ở trung tâm. Vì lẽ đó, ngập úng giữa thành phố là chuyện tất nhiên và ngày càng trầm trọng.

Thưa ông Chủ tịch!

Tâm sự và thiển ý của tôi cũng chỉ được đến vậy, Hà Nội – Thủ đô của cả nước, niềm tự hào của người Việt, nhất là sự kiện đồng hồ đếm ngược hình như đang quay nhanh để đưa Hà Nội đến gần con số 1000 năm lịch sử, Hà Nội đã mở rộng gấp 3 – 4 lần trước đây, Hà Nội cũng đang cùng TPHCM được Quốc hội xem xét phê chuẩn cơ chế của Thành phố đặc biệt, cho  dù ông Chủ tịch mới nhận trọng trách đứng đầu chính quyền Thủ đô và như ông nói ông cần đi nhiều, thật nhiều để nắm bắt, để hiểu Hà Nội hơn nhưng tôi ngày đêm mong mỏi ông cùng các nhà lãnh đạo Thủ đô làm thế nào để Hà Nội đừng biến thành sông sau mưa lũ, làm thế nào để Hà Nội đẹp hơn, hiện đại hơn để nhân dân Thủ đô được tự hào, nhân dân cả nước ngưỡng mộ. Chúng tôi sẽ vô cùng cảm kích và biết ơn ông Chủ tịch.

Kính thư!

Minh Tân (bài đăng trên TuanVietnam)

 

 

Bia hơi Hà Nội: Có phải là văn hóa?

Posted on Updated on


Là một đệ tử khá trung thành của món đồ uống này, tôi tự lý giải rằng, vì nó là thứ bia “nhanh biến thành hơi” nhất nên người ta gọi thế.

Nhậu nhiều không đếm được, một ngày giật mình nhìn ra, ngẫm chuyện an toàn vệ sinh thực phẩm bia hơi mà không khỏi giật mình hoảng hốt.

Văn hóa và công nghệ “bia hơi Hà Nội”

Phàm là đàn ông từ cậu choai choai đến bậc “thất thập cổ lai hy” đã từng sống ở đất Kinh Kỳ, khó ai không một lần uống bia hơi Hà Nội. Cũng bởi ở cái vùng đất bên cạnh đường Hoàng Hoa Thám – Hà Nội có cái diệu kỳ gì đó của tạo hóa ban cho nguồn nước ngầm “đặc biệt” mà từ đó kết hợp với công nghệ “bia” của xứ tây để cho ra đời một thứ đồ uống gọi là “bia hơi” làm say sưa bao thế hệ. Là một đệ tử khá trung thành của món đồ uống này, tôi không biết căn nguyên sâu xa của cụm từ trên do đâu và dựa trên cơ sở khoa học nào, nhưng bằng trực quan tôi cho rằng vì nó là thứ bia “nhanh biến thành hơi” nhất nên người ta gọi thế.
Đúng là thế thật, uống bia hơi không gào thét mới là chuyện lạ, nếu chị em nào không may được mời gặp bạn trong các dịp sinh hoạt hội đồng niên, đồng hương, đồng khóa mà ngồi ở quán bia hơi, không phải mà là “bãi bia” theo cách gọi của dân nghiền thì đảm bảo tối về cứ là mệt rũ, có khi dãn cả dây chằng màng nhĩ bởi cái thứ âm thanh hỗn tạp, inh tai, nhức óc được phát ra từ đó, còn hơn cả chợ vỡ. “Rượu vào lời ra” là đúc kết của người xưa và ngày nay được soi sáng bởi khoa học hiện đại, ít ai biết rằng diện tích của các phế nang trong 2 lá phổi của con người nếu trải rộng ra có thể bằng diện tích của một phần Thủ đô Hà Nội cũ. Rượu, bia uống vào cơ thể, trước tiên được “xả ra” rất nhanh bởi hệ hô hấp mà các phế nang là đơn vị chức năng của hệ này, tốc độ xả ra ấy được đẩy nhanh bởi… sự hò hét. Thế nên càng uống càng gào thét mạnh, càng gào thét mạnh lại càng uống khỏe. Giới nhậu Hà Thành đại ngôn rằng, đó là văn hóa bia hơi Hà Nội.

Sản xuất  và kinh doanh bia hơi Hà Nội có thể xứng đáng gọi là công nghệ vì nó có sứ mệnh đáp ứng một nhu cầu văn hóa của cộng đồng. Chả thế mà đi về các thành phố , thị xã, thị tứ xung quang Hà Nội cỡ vài trăm km, người ta nhìn thấy nhiều biển quảng cáo ghi là Bia hơi Hà Nội, nếu chủ quán nào có  phẩm chất doanh nhân cao hơn thì người ta ghi hẳn là “Bia hơi Hà Nội 100%”.

Tùy hứng chế tác

Ngẫm về nghề kinh doanh này gắn với vấn đề ATVSTP mới thấy nhiều điều đáng bàn. Tại một nhà hàng bia hơi thuộc hạng có “sao” của Hà Nội, giới thạo tin nói rằng thương hiệu của nhà hàng này đã đến mức có khả năng nhượng quyền, có nghĩa là bạn muốn mở bãi bia, xin cứ gắn cái tên đó lên, chắc chắn dân nhậu sẽ lao vào mà uống, tôi để ý thấy một cái giấy chứng nhận “ATVSTP” được chính quyền Thủ đô cấp cho cơ sở này được chủ nhà hàng cố ý phóng lên cỡ A3 và ép plastic dán ngay lối ra vào, chắc hẳn muốn nhiều thực khách nhìn thấy.

Máu nghề nghiệp nổi lên, tôi lân la bắt chuyện với nhân viên và người quản lý, sau nhiều câu hỏi và câu trả lời, tôi được biết cái tờ giấy kia có giá trị 1 năm, hàng tuần chính quyền phường (chắc là Y tế) xuống kiểm tra 1 lần, hàng tháng UBND quận (cũng chắc là ngành Y tế) xuống kiểm tra 1 lần, thỉnh thoảng có chiến dịch thì có thể có cả Sở Y tế viếng thăm. Để được cấp cái giấy ấy, nếu đúng lý thuyết thì không hề đơn giản, ví như đầu bếp và nhân viên nhà hàng “phải” đi khám sức khỏe, xét nghiệm đủ thứ xem có bị mắc bệnh truyền nhiềm hay không? Bên cạnh đó còn hàng loạt những qui định khá ngặt nghèo về nguồn gốc thực phẩm, qui trình bếp một chiều, nhân viên phải có mũ áo, găng tay bảo hộ.v.v.

Để “nắm tình hình” tôi giả vờ mang bộ mặt “công chức” nhờ nhân viên chạy bàn gọi ông đầu bếp ra bàn ăn để hỏi han, góp ý. Từ phía cái nơi gọi là bếp đi ra trước mặt tôi là một ông béo lùn, mặc quần sọc, cởi trần để lộ cái bụng núng nính mà anh chàng “họ Chư” cũng phải kiêng nể  phần nào, người ông ta đầy mồ hôi, râu tóc lờm xờm và tuyệt nhiên chả thấy có cái gì gọi là bảo hộ lao động trên khắp cơ thể. Kỹ càng hơn, tôi đi về phía khu bếp đặt cạnh khu vệ sinh, mà cái  gọi là “toa lét” ở các nhà hàng bia hơi thì chỉ có dân nhậu đang phê phê may ra mới chịu được, nhìn kỹ khu bếp thì ôi thôi, nó chật đến mức không thể chật hơn, bẩn đến mức khó thể bẩn hơn, đầu bếp chính, phụ đứng chật như nêm cối, hầu hết cũng cởi trần.

Tôi hỏi thế hàng ngày nhà hàng khi đưa thực phẩm vào chế biến có lưu lại mẫu thực phẩm không? Người quản lý ngập ngừng nhưng đành phải trả lời rằng không. Tôi hỏi tiếp, thế những nhân viên mới vào làm có được khám sức khỏe ngay không và có chắc rằng tất cả đều nhân viên đang bưng bê kia đã khám sức khỏe? Nếu giả sử có một nhân viên đang mắc bệnh truyền nhiễm mà không được phát hiện thì hậu quả sẽ thế nào? Những câu hỏi này chị quản lý đành im lặng.

Nói chuyện với nhiều người thuộc hàng “top” trong giới nhậu bia hơi tôi đều nhận được cái lắc đầu khi được hỏi đâu là bia hơi Hà Nội nguyên chất. Không ai biết rõ rằng trong các “bom” bia mang nhãn hiệu Bia Hà Nội kia có bao nhiêu phần trăm của thứ bia gọi là “Bia cỏ”, nhưng có điều khá chắc chắn rằng chả có Bia hơi Hà Nội nguyên chất 100% bao giờ. Bia cỏ là thứ đồ uống được sản xuất bởi công nghệ giản đơn tại những xưởng không đăng ký, có thể đặt ngay cạnh cống rãnh hay chuồng heo, nó là cứu cánh cho các nhà hàng bia hơi và là công cụ đắc lực trợ giúp bia hơi Hà Nội làm các thực khách nhanh phê, nhanh bốc. Trong những thứ vô duyên trên đời có thể phải kể đến các món ăn tại nhà hàng bia hơi, nó được nấu cẩu thả, chẳng theo trường phái ẩm thực nào, miễn là nấu thật nhanh, bê ra thật lẹ. Vì thế mà các đầu bếp đã kinh qua nhà hàng bia hơi thường ít khi xin được vào nhà hàng xịn, bởi các ông chủ e ngại cái sự hoang dã trong nghề nghiệp và thói quen nấu tùy hứng ở bếp bia hơi sẽ mang vào nhà hàng của họ. Nhìn bàn ăn cỡ 4 – 6 ông với ngồn ngộn thức ăn ở quán bia hơi và hét hò “dzô dzô” inh ỏi có thể hiểu rằng họ đang đốt tiền, đốt sức khỏe  vì một lí do nào đó, có thể là vừa trúng mánh.

Đến đây, chắc bạn đọc hiểu rằng cái tờ giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP trên kia, và cái cách phục vụ của nhà hàng bia hơi kể trên có “ý nghĩa” thế nào đối với sức khỏe các thực khách. Ngồi nhẩm tính các bãi bia mỗi bữa có tới hàng ngàn người uống, người ăn mới giật mình hoảng hốt, khi nghĩ đến khả năng bị ngộ độc thức ăn thì hậu quả sẽ thế nào?

Kiến nghị

Bia hơi chỉ là một phần nhỏ trong ATVSTPT ở  Hà Nội. Trước thực trạng thả nổi ATVSTP như hiện nay là tiềm ẩn nguy cơ gây hại đối với sức khỏe con người, nguy cơ dịch bệnh bùng phát tràn lan, các cơ quan hữu trách cần có biện pháp lập lại trật tự trong quản lý ATVSTP.

Thiết nghĩ, chỉ cần qui định bắt buộc tất cả các nhà hàng phải lưu thực phẩm sống và thức ăn đã chế biến hàng bữa trong một thời gian nhất định và bất kỳ lúc nào cơ quan chức năng yêu cầu phải cung cấp ngay, thì cho dù chúng ta không ngăn chặn được ngay tức thì những diễn biến xấu có thể xảy ra,n cũng dứt khoát nâng cao được  ý thức trách nhiệm của các chủ kinh doanh.

Về lâu dài cần có những giải pháp căn cơ, dài hạn trong việc kiểm soát các khâu từ nuôi, trồng, chế biến, lưu thông thực phẩm và qui trình kiểm soát dịch vụ ăn uống. Cách quản lý như hiện nay là cách nắm lươn đằng đuôi.

BS.Minh Tân
Đăng trên TT&VH

Sữa nhiễm độc: Dấu hỏi về Trách nhiệm và Lương tri

Posted on Updated on


Khi ATVSTP chỉ được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận “lấy lệ”, và cơ quan công quyền vẫn ca điệp khúc về lực lượng mỏng, thẩm quyền hạn chế, thiếu sự phối hợp đồng bộ… thì người tiêu dùng chỉ còn biết trông chờ vào lương tri của nhà sản xuất…

Một xã hội không kiểm soát nổi đồ ăn thức uống cho con người, một xã hội hồn nhiên ăn, uống cho đến khi giật mình, hốt hoảng vì bên kia biên giới công bố đó là thức ăn bẩn gây tổn hại đến sức khỏe, thậm chí mang cái chết đến cho con người, lại nhằm đúng vào thế giới trẻ em, mầm non của dân tộc, xã hội đó sẽ đi về đâu? Phát triển kinh tế để làm gì?

Vụ sữa sản xuất tại Trung quốc bị nhiễm độc uống vào gây suy thận cho trẻ em đã làm cả thế giới xôn xao, đến giờ này những câu hỏi về con đường đi và sự hiện diện của loại sữa này trong thị trường Việt Nam và trong ngăn tủ lạnh của bao gia đình vẫn còn bỏ ngỏ gây hoang mang trong xã hội.

Sữa độc chỉ là phần nổi của tảng băng chìm khổng lồ về ATVSTP thiếu kiểm soát ở đất nước ta.

Trách nhiệm thuộc về ai?

Trách nhiệm đầu tiên có lẽ thuộc về cục ATVSTP – Bộ Y tế, bởi bất cứ thứ gì liên quan đến sự ăn, uống của con người muốn qua biên giới vào Việt Nam đều phải đi qua cửa ngõ đầu tiên là Cục ATVSTP. Chỉ khi nhà nhập khẩu đã đăng ký nhãn hiệu và chất lượng sản phẩm và được Cục ATVSTP cấp giấy chứng nhận, sản phẩm đó mới được phép nhập về.

Khi vụ bê bối sữa độc bùng nổ ở Trung Quốc, người có trách nhiệm ở Bộ Y tế vẫn trả lời tỉnh bơ trên báo chí rằng “sữa melamine chưa phải là vấn đề của Việt Nam”; “chưa có sản phẩm sữa Trung Quốc nào nhập khẩu chính thức vào Việt Nam”…Trong khi đó, YiLi, một trong 22 nhà sản xuất có sản phẩm melamine đã được công nhận tiêu chuẩn chất lượng từ tháng 3 – 2008 chính tại Bộ Y tế! Sản phẩm YiLi tại Việt Nam cũng có melamine, chưa kể có tới 11 loại sữa xuất xứ Trung quốc khác cũng đã công bố tiêu chuẩn chất lượng, nhưng Bộ Y tế không nhớ bởi mãi mới…tìm thấy hồ sơ!!!

Câu hỏi đặt ra là những loại sữa nhập về từ Trung Quốc được cấp phép sao vẫn có độc chất? Và những loại sữa trôi nổi không nhãn mác sao vẫn cứ lọt qua biên giới và ngang nhiên bày bán tại thị trường Việt Nam?

Cho dù căn cứ trên những qui định nào thì trách nhiệm thuộc các cơ quan công quyền là Cục ATVSTP, Hải quan và Quản lí thị trường là trách nhiệm không thể chối bỏ.

Bên cạnh đó, vai trò của hội bảo vệ người tiêu dùng ở đâu trong vụ việc này, khi mà hầu như chưa thấy họ lên tiếng?

Trong tình hình nước sôi lửa bỏng hiện nay, các biện pháp đủ mạnh và khả thi để can thiệp vào tình hình hầu như chưa được đưa ra và triển khai. Cục ATVSTP không nhớ là đã cấp phép cho những loại sữa nào từ Trung Quốc nhập vào Việt Nam. Cơ quan xét nghiệm loại sữa nào nhiễm độc thì kêu quá tải không đủ sức công bố nhanh để hướng dẫn người tiêu dùng…Và việc công bố công khai như Bộ Y tế đã hứa cũng hết sức nhỏ giọt.

Thiếu một người cầm cân nảy mực đảm bảo chỉ ra đích danh “ông lớn” sản xuất sữa nào của Việt Nam an toàn, bản năng phòng vệ của cộng đồng còn một lựa chọn duy nhất: nhịn sữa, tốt nhất là với tất cả các loại sữa, và sản phẩm từ sữa, bởi không ai biết phế phẩm từ sữa của các công ty nào không dùng sữa Trung Quốc.

Và lương tri ở đâu?

Cầm bất kỳ tờ báo nào trên tay, hay nhấp chuột vào một tờ báo mạng nào, có lẽ bất kỳ người dân Việt Nam nào còn chút suy tư về thế cuộc không thể không động lòng vì nhan nhản các tít đập ngay vào mắt rằng ở chỗ ấy, nơi nọ hàng trăm công nhân, hàng chục em học sinh bị ngộ độc thức ăn, rồi đồ uống này, nguồn thịt kia, loại rau nọ có hàm lượng độc tố vượt ngưỡng cho phép…

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của công nghệ truyền thông và Internet, cái sự “ăn bẩn” chả dấu được ai ở tầm qui mô quốc gia. Vấn đề ATVSTP có thể được xem như hiện diện văn minh, đẳng cấp của một con người, một cộng đồng và rộng hơn là một dân tộc.

Nói quá lên, tôi nhìn bạn ăn thế nào, tôi biết bạn là ai?

Trong khi đó, bàn đến vấn đề ATVSTP của Việt Nam, người tiêu dùng lại nhận được điệp khúc muôn thuở từ các cơ quan công quyền: lực lượng quá mỏng, vừa thiếu lại vừa yếu; Thẩm quyền hạn chế, chế tài không đủ mạnh; Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; Trang thiết bị lạc hậu vì thiếu tiền; Phân cấp lỏng lẻo, chồng chéo…

Áp những lí do biện bạch này vào lĩnh vực nào cũng đúng, chỉ có người dân đang lao động cống hiến cho dựng xây đất nước là cam chịu thiệt thòi.

Điệp khúc ấy vô tình tiếp sức cho các nhà kinh doanh dịch vụ ăn, uống mặc sức kinh doanh trên sức khỏe con người.

Ở xứ ta, đâu đâu cũng thấy hàng ăn, quán uống tự phát mọc lên. Quán nào văn minh lắm thì chủ quán và nhân viên đi khám sức khỏe “lấy lệ” và được UBND phường cấp cho “văn bằng”, gọi là “Đăng ký đảm bảo ATVSTP” và xem đó như là yếu tố của thực hành pháp luật.

Trong tình hình ấy, chúng ta chỉ còn cách đánh thức một thứ “xa xỉ”, được gọi là “lương tri”, dù cách này không hợp nguyên tắc xây dựng xã hội pháp quyền.

Nói cách khác, người tiêu dùng  buộc phải vịn đỡ vào chiếc gậy “lương tri” của con người: lương tri của những người nông dân, công nhân sản xuất ra lương thực, thực phẩm, của các nhà kinh doanh, chế biến thực phẩm, và của những nhà đang ngày đêm suy nghĩ vận hành cỗ xe thương mại Việt Nam hội nhập với dòng chảy thương mại toàn cầu.

Và ngay mới hôm qua, ngày 29/9, Bộ Y tế kêu gọi trách nhiệm công dân của các doanh nghiệp, đề nghị họ tự mang mẫu sản phẩm sữa/ sử dụng nguyên liệu sữa đi xét nghiệm. Nghĩa là cơ quan quản lý nhà nước cũng đang trông chờ vào “lương tri” của nhà sản xuất!

Trong lúc người tiêu dùng Việt Nam trông chờ vào lương tri thay pháp quyền, thì các nước, việc áp dụng nguyên tắc pháp quyền rất chặt chẽ và hiệu quả. Quy trình kiểm tra VSATTP của các nước này cực kỳ nghiêm ngặt, và bất kỳ quán ăn, nhà hàng nào vi phạm sẽ bị rút phép kinh doanh.

Và giải pháp?

Chưa nói đến quản lý ở tầm vĩ mô, vấn đề trước hết giải quyết ở cơ sở. Cách tốt nhất là Nhà nước dành tiền của dân để đầu tư mạnh mẽ cho chính quyền cơ sở – cơ quan Nhà nước gần dân nhất, biết rõ và lắng nghe rõ nhất hơi thở của cuộc sống để quản lí các vấn đề về ATVSTP nói riêng và các vấn đề liên quan đến cuộc sống con người.

Nếu trao quyền và nâng cao năng lực của trạm y tế xã, phường đủ mạnh để tham mưu và đại diện cho chính quyền cơ sở trong công tác quản lí, kiểm tra, xử phạt các cơ sở kinh doanh, ăn uống, chế biến và phân phối sản phẩm thực phẩm, cùng với đó hiện đại hóa và đầu tư rộng rãi các cơ sở phân tích, xét nghiệm thực phẩm đủ khả năng đưa ra kết quả trong ngày thiết nghĩ sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt bảo vệ sức khỏe người dân.

Minh Tân
Đăng trên TuanVietNam

 

Thời bão giá

Posted on Updated on


Tôi lại đạp xe đèo em đến lớp,
Tiếng chim liu lô khi Hà Nội xuân về,
Xích lô leng keng đi về khi cưới hỏi,
Chạng vạng chiều, vợ chạy bộ mua rau,

Mẹ tôi già khuôn mặt đã nhăn nheo,

Bám bậu cửa ngẩn ngơ nhìn ra phố

Chị còng lưng vác than lên sân thượng,

Em bé khóc ngặt nghèo trong bóng tối miên man.

Và cảnh sát, anh không cần núp nữa

Có còn ai tranh cướp vượt đèn đâu,

Mũ bảo hiểm bỗng nhiên vứt xó,

Cho tóc tung bay trả lại tuổi học trò.

Chó lại chạy tung tăng trên phố

Chẳng còn lo xe máy cán thành què.

Ôi cuộc sống thời bão xăng, bão điện
Phố bỗng trầm, người bỗng thấy nao nao.

Hà Nội, 24/2/2011