Month: Tháng Bảy 2013

Tình yêu bóng đá?

Posted on Updated on


 

 

anh hung

Đây là hình ảnh 1 thanh niên VN chạy bộ theo xe của đoàn cầu thủ Arsenal khi họ đến VN đấu giao hữu với đội tuyển nước nhà.
Mình k hiểu người thanh niên này đang làm gì, nhưng có điều mình băn khoăn tự hỏi, giá như, ngọn lửa đam mê của tuổi trẻ, anh ta dành cho 1 mối quan tâm khác thì xã hội chúng ta có thể tiến bộ nhanh hơn. Tình yêu bóng đá ở xứ sở này, dường như nó như 1 liều Doping giúp cộng đồng giải tỏa sự bức xúc, vô vọng, mù mịt trước tương lai hay nó là 1 cơ hội để đám đông tha hồ hò hét, gào thét mà k ai ngăn cản, có khi còn được bảo vệ?

 

Nghe Bộ trưởng Việt nói chuyện ở World Bank

Posted on


Theo Hieuminh.org

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh tại World Bank. Ảnh: HM chụp từ Blackberry

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh tại World Bank. Ảnh: HM chụp từ Blackberry

Hiệu Minh Blog từng đưa tin về những chính khách đến nói chuyện tại World Bank. Hôm nay, 15-7, có vị khách từ Việt Nam, tôi cũng xin viết chút tin về cuộc gặp thú vị này.

Tại đại bản doanh trên tầng 13 sang trọng của World Bank, khách tới dự đông nghẹt trong hội trường để nghe Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư, ông Bùi Quang Vinh, trình bày về 25 năm phát triển của Việt Nam từ 1986 đến nay.

 

Khách dự rất ấn tượng với những gì Việt Nam đã đạt được: (1) Trở thành nước thu nhập trung bình thấp (trên 1500$/người/năm theo GDP/PPP); (2) Từ khủng hoảng trầm trọng Việt Nam đã sang nền kinh tế ổn định; (3) Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, với thiếu thốn trầm trọng, Việt Nam trở thành một trong 5 năm nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, với thành tích xóa đói giảm nghèo rất đáng học tập; (4) Từ một nước đáy nghèo, lên một nước thu nhập trung bình thấp (lower MIC).

Trong bốn điểm trên, không thấy ông nói nhiều đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu theo suốt nhiều kỳ đại hội Đảng.

Việc một Bộ trưởng Việt Nam tới tòa nhà của World Bank để chia sẻ kinh nghiệm phát triển, xóa đói giảm nghèo đáng để làm gương, và Việt Nam sẵn sàng học hỏi kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế, chứng tỏ sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế đối với quốc gia này.

Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư yêu nhà quê

Mục đích của entry này không phải bàn về báo cáo mà muốn đề cập đến một vấn đề mà Bộ trưởng nhiều lần nhắc tới: Nông nghiệp Việt Nam.

Trong bốn thành tựu nói trên, chủ đề Nông nghiệp được Bộ trưởng Vinh nói khá kỹ và dường như có kiến thức sâu sát, gắn với thực tế.

Một bà đại diện của Đức đã hỏi Bộ trưởng, làm thế nào Việt Nam lại tạo ra công ăn việc làm cho hàng triệu người trong khi kinh tế đi xuống.

Bộ trưởng Vinh đã so sánh hai quốc gia, Mỹ và Việt Nam. Thất nghiệp ở Mỹ là thất nghiệp, vì không thể làm việc gì khác và ngồi đợi việc. Trong khi tại Việt Nam, nếu thất nghiệp, thì chính những người này quay về nông thôn tiếp tục công việc ruộng đồng. Chuyện giải quyết hàng triệu công ăn việc làm là do tự thân vận động của người lao động Việt Nam có thể hiểu được bởi quốc gia này vẫn là quốc gia nông nghiệp.

Ông còn nói thêm, nông dân Việt Nam đã sản xuất lúa gạo rất nhiều, đôi khi bội thu, thóc thừa ở một số nơi, trong lúc cần những mặt hàng như ngũ cốc cho gia súc, cũng là một mũi nhọn của nông nghiệp, thì nhà nước phải nhập tới 2 tỷ đô la. Sự phát triển nông nghiệp không có kế hoạch đã dẫn đến, cái thừa thì vẫn thừa, cái thiếu vẫn thiếu.

Mấy vị khách ngồi cạnh hỏi tôi, liệu Bộ trưởng Vinh có xuất thân từ nông thôn hay ông vể quê nghèo đói trước khi thăm World Bank.

Xa Việt Nam lâu rồi, tôi ít quan tâm đến hàng ngũ Bộ trưởng. Nhưng nghe mấy vị khách cao cấp, tầm giám đốc ở World Bank, quan tâm và hỏi, tôi thử tìm xem ông Vinh xuất thân từ đâu.

Hóa ra ông sinh cùng năm (1953) với chủ blog này, tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp năm 1975, từng đi nông trường quốc doanh ở Hoàng Liên Sơn, xuất thân từ đội trưởng đội sản xuất và lên tới giám đốc nông trường.

Khi sang Liên Xô, ông Vinh cũng học quản lý kinh tế nông nghiệp ở Moscow từ năm 1984 đến 1986. Giữ nhiều chức quản lý, làm tới Chủ tịch rồi Bí thư tỉnh ủy Lào Cai. Năm 2010, ông được Quốc hội phê chuẩn là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư (MPI).

Xem xong tiểu sử ngắn gọn, mình phải công nhận mấy vị khách tây cực tinh. Chỉ cần nghe trao đổi và trả lời trong vòng hơn một tiếng, họ có thể đoán vị khách đến từ đâu và chuyên môn sâu là gì.

Bộ trưởng Vinh nói khá chi tiết về biến đổi khí hậu, Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nhất trên thế giới, 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long có thể bị nhấn chìm nếu nước biển dâng lên hàng mét.

Xây thủy điện trên thượng lưu song Mekong sẽ ảnh hưởng đến nguồn nước, sinh thái của hạ lưu và sẽ trực tiếp gây tai họa cho hàng trăm triệu dân sống nhờ vào con sông dài nhất nhì châu Á này. Điều đó sẽ ảnh hưởng tới người nghèo và cả thành tích xóa nghèo của Việt Nam và cả xứ Đông dương.

Dường như xuyên suốt bài phát biểu dài 30 phút và sau đó 1 tiếng trao đổi thông qua mấy chục câu hỏi của người tới dự, vấn đề Nông nghiệp được Bộ trưởng trả lời rất ấn tượng, gây được cảm tình cho người nghe.

Rất có thể nông nghiệp không phải là cứu cánh (mục đích cuối cùng) cho Việt Nam, nhưng trong giai đoạn hiện nay, khi khủng hoảng kinh tế trầm trọng xảy ra khắp nơi, thì nông nghiệp vẫn là chiến lược phát triển tốt trong nhiều năm sắp tới.

Nhìn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những chương trình trọng điểm của quốc gia tốn kém nhưng không hiệu quả và so sánh với nông nghiệp thì lẽ ra nông dân phải được ưu tiên trong đầu tư nhiều hơn.

Không hiểu sao, một vị Bộ trưởng một bộ vạch ra kế hoạch đầu tư cho cả nước, hiểu nông nghiệp sâu sắc như thế, mà không giúp cho ngành này nhiều hơn. Đó là câu hỏi tôi cứ băn khoăn mãi suốt buổi thuyết trình.

Đói nghèo của thế giới – cơ hội cho Việt Nam

Để nói về những cơ hội, ta nên xem thế giới đói nghèo ngày nay ra sao. Theo WFP (World Food Program – Chương trình lương thực thế giới), hiện nay có khoảng 870 triệu người đang bị đói nghiêm trọng, 95% là ở các nước nghèo.

Châu Á và khu vực Thái Bình Dương chiếm tới 563 triệu, nhưng xu hướng giảm hơn, còn lại phần lớn ở châu Phi. Người ta cho rằng, ở các quốc gia nghèo, nếu phụ nữ được bình đẳng với nam giới về sử dụng tài nguyên và nguồn lực, thì số người đói khổ có thể giảm bớt 150 triệu.

Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân gây ra tử vong cho 3.1 triệu trẻ dưới 5 tuổi, chiếm tới 45% tử vong trong trẻ em. Cứ 6 em, thì có 1 em, tương đương với khoảng 100 triệu trẻ, bị thiếu cân. Có tới 66 triệu học sinh tiểu học bị đói khi đến trường, và có tới 23 triệu ở châu Phi. WFP tính rằng, cần tới $3.2 tỷ đô la để giải quyết nạn đói đi học cho 66 triệu em ở lứa tuổi đến trường này.

Tôi nghĩ mãi về số liệu này của WFP mà bất kỳ lãnh đạo quốc gia nào cũng biết. Để giải quyết nạn đói cho gần 1 tỷ người, chúng ta cần lương thực, trong đó có lúa, gạo, ngũ cốc và các sản phẩm nông nghiệp. Chưa kể những khi khủng hoảng lương thực toàn cầu, ta cần nhớ “Nhất sỹ nhì nông…”

Bộ trưởng Vinh có than phiền về khả năng của Việt Nam toàn xuất thô nguyên liệu với giá rẻ, trong đó có cả sản phẩm nông nghiệp. Để đạt được sản phẩm đầu cuối có chất lượng cao thì cần có khoa học kỹ thuật, chứ không đơn thuần chỉ là nông dân sản xuất càng nhiều thóc càng tốt. Mà để làm điều đó, cần mấy thập kỷ theo khoa học nông nghiệp mới mong đầu ra như thế giới mong muốn.

Trong lúc chờ đợi các nhà khoa học để tâm vào nông nghiệp, các chính trị gia hiểu ra công nghiệp hóa và hiện đại hóa cũng là bài toán khó giải, thì việc Việt Nam tham gia vào giải quyết nạn đói cho gần 1 tỷ người trên hành tinh là hoàn toàn trong tầm tay.

Vất vả nhà nông Hoa Lư. Ảnh: HM

Vất vả nhà nông Hoa Lư. Ảnh: HM

Người ta nói, thách thức của người này là cơ hội của người khác, rất đúng trong trường hợp cả thế giới đang lo xóa đói thì Việt Nam có một kho lương thực vô tận. Nếu biết sử dụng thế mạnh này thì Việt Nam có thể hội nhập nhanh hơn và thực sự đứng vào cậu lạc bộ các nước thu nhập trung bình.

Chỉ cần hiểu như đại biểu Hồ Thị Thủy (Vĩnh Phúc)  là quá đủ “Nhiều vùng nông thôn lại trở thành hậu phương vững chắc cho lao động bị mất việc từ các thành phố và khu công nghiệp quay trở về. Nông nghiệp không chỉ nuôi sống toàn dân, xuất khẩu thu ngoại tệ lớn mà còn đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự xã hội… nếu như ta có chính sách và quản lý nông nghiệp, nông thôn một cách đúng đắn phù hợp. ”

Cuối buổi nói chuyện, Bộ trưởng Vinh có đôi điều tâm sự, mà tôi cho rằng ông nói từ đáy lòng. Sau 25 năm đổi mới và phát triển, nguyên liệu tĩnh (tài nguyên thiên nhiên, vốn vay…) đã cạn dần. Việt Nam muốn phát triển cần có nguyên liệu động, đó là con người, sự sáng tạo, tri thức. Người nghe không thể không đồng ý với ông.

Đất nông nghiệp chính là tài nguyên động và tĩnh. Tĩnh vì đất vẫn là đất, động bởi vì đến hẹn lại lên, đất lại sinh ra lương thực nuôi sống người nuôi đất bởi có mồ hôi của người nông dân và tri thức của những nhà khoa học.

Động đấy, tĩnh đấy, có thể không là cứu cánh, nhưng nông nghiêp là một trong những con đường đi lên chắc chắn của đất nước, bởi nó được chứng minh qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Hiệu Minh. 15-07-2013.

PS. Xin cảm ơn Bộ trưởng Bùi Quang Vinh và đoàn công tác đã có một buổi nói chuyện ấn tượng tại World Bank. Rất đông người Việt và gốc Việt cũng tới nghe ông và đóng góp ý kiến. Rất mừng gặp anh Khanh từng làm bên Tổng cục Thống kê, hy vọng anh đọc blog này. Anh ấy vẫn nhớ mình bắt đầu dự án ICT gần 100 triệu đô USD với nàng Christine xinh đẹp.

Câu chuyện nước Mỹ: Gửi con…du học

Posted on Updated on


Tác giả: Hiệu Minh (hieuminh.org)

 

Tháp ngà ĐH Georgetown ở DC. Ảnh: HM

Tháp ngà ĐH Georgetown ở DC. Ảnh: HM

Mấy tuần rồi, có cô bạn tự nhiên thăm hỏi rối rít, dù mấy chục năm trước chẳng biết mình đi đâu.

Anh dạo này thế nào, có khỏe không, vợ đã bỏ chưa, con cái học hành ra sao. Tóc bạc nhiều không, hàm răng giả ngày xưa em tặng nay còn dùng.

 

Kinh nghiệm cho biết, nàng sẽ nhờ cái gì đó. Nhân bảo như thần bảo, sau khi vòng vo Tam quốc, cô hỏi, anh ơi, em cho con gái sang Mỹ học đại học, nên chuẩn bị gì. Em muốn đi theo để nấu cơm, giặt rũ cho cháu. Nhà em có 30.000 đô la đủ cho cháu học không?

Câu này nghe hàng trăm lần rồi, nhưng không có câu trả lời cụ thể. Mình nghĩ đây cũng là đề tài hay nên viết vài entry tặng bà con hang Cua, biết đâu có ngày cần cho con cháu thành công dân toàn cầu thì sao.

Cũng không phải chỉ đi Mỹ thôi đâu, đi nước khác cũng vậy, kể cả du học ở cố đô Hoa Lư cũng đúng luôn.

Nghĩ được gì viết nấy, chẳng có lớp lang, ý tứ gì, bà con thông cảm. Ai có kinh nghiệm đóng góp, cùng chia sẻ.

Kỹ năng sống độc lập – Bắt đầu là rửa bát, quét nhà

Nghe cô bạn hỏi dồn dập, mình trả lời đại, cứ cho cháu sang, thế nào cháu cũng lớn mỗi năm một tuổi và quay về thăm bố mẹ vài lần trước khi định cư tại Mỹ.

Chỉ nhớ một điều, nước Mỹ là nước Mỹ, nước mình là CHXHCN VN, hai quốc gia, hai dân tộc khác nhau hoàn toàn.

Trong khi chờ đợi cuộc cách mạng vô sản thành công tại Hoa Kỳ thì ta cứ phải theo pháp luật của tư bản. Những thói ở thiên đường bên nhà mang theo sang Mỹ đôi khi không hợp, thành xung đột văn hóa và có thể phạm luật.

Mấy năm trước, có thằng cu sinh viên Việt ở California, lấy dao dọa bạn, bị cảnh sát đến còng tay và đánh một trận nhớ đời. Dù có thắng kiện nhưng cu cậu hiểu ra một điều, Mỹ khác Việt Nam.

Nền giáo dục và gia đình Việt nuôi con theo kiểu gà chọi, phần đông cha mẹ cơm bưng nước rót, con chẳng phải làm gì, chỉ ăn, học và ngủ, suốt 12 năm liền.

Nếu thi vào đại học thành công coi như công ơn được đền đáp. Ra trường có công ăn việc làm, tiền của nhiều, nó sẽ phụng dưỡng mình khi về già. Nếu thất bại, bố mẹ nuôi báo cô.

Vì thế, khi con rời tổ ấm, ra đi một mình, ai mà chẳng lo.

Cô bạn than, con em chẳng biết luộc trứng, không biết nấu cơm, nhìn miếng thịt đông lạnh chẳng biết đập thế nào cho tan đá. Bây giờ mà sang Mỹ ăn uống thế nào. Nói rồi nàng khóc tu tu, dù con đã có trường nào nhận đâu.

Du học phải biết rửa bát. Ảnh: HM

Du học như anh Osin cũng phải biết rửa bát. Ảnh: HM

Lỗi tại bọn trẻ ư. Các cụ đẻ chúng ra mà không dạy nên người là do lỗi của…”nơi sinh”. Sorry. Dân trí kém, quan trí thấp là do dân, vì dân và từ dân mà ra cả.

Giáo dục Mỹ dạy trẻ học để ra đời học tiếp phần đời còn lại. Làm công nhân cũng ok, làm kỹ sư cũng được, nếu tiện, làm tổng thống cũng chẳng sao.

Vì thế, dù bọn trẻ Mỹ cũng gà mờ khi ra trường, nhưng khi cần, chúng tiếp cận cuộc sống mới nhanh hơn, bởi tất cả những kỹ năng đã được học và thực tập từ lúc còn bé do cha mẹ, nhà trường và xã hội hướng dẫn.

Tổng Cua chỉ khuyên đơn giản thế này. Trong lúc chờ đợi xin các trường thông báo nhận học, các bậc cha mẹ nên dạy các cháu biết rửa bát, quét nhà, biết tự giặt quần áo, biết nấu cơm, biết ăn bánh mỳ với bơ, học nấu súp, biết cách luộc trứng 3 phút, biết làm tan đá cho miếng thịt.

Nếu cần, để cháu nấu vài bữa cho cả nhà, chịu khó ăn mặn, nuốt nhạt chút. Học nấu ăn sẽ biết cách sống tự lập khi không còn cha mẹ bên cạnh. Quan trọng nhất là không chết đói. Người sống đống của, các cụ nói cấm sai.

Nhắc các cháu ăn uống không nhai tóp tép, không lấy tay ngoáy mũi như bác Hiệu Minh, không khạc nhổ như bác Hồ Thơm, không văng bậy chửi thề như bác Xang Hứng, không đá đểu như lão Cu Sờ (QX), làm thơ thì phải biết song ngữ như anh Tịt, không hiểu tiếng Anh phải hỏi lại, đừng nhe răng cười như người đẹp Kim Dung :lol:

Nói chuyện răng miệng cũng phải cẩn thận. Răng thì phải đến nha sỹ cạo cho sạch cao. Bên Mỹ đi thi vấn đáp hay tuyển việc với hàm răng nham nhở, thò ra thụt vào, dính cả phở lẫn hành thì…chắc trượt.

Từ chuyện nhỏ sẽ học được chuyện lớn. Các cô các cậu 17-18 tuổi không phải là đứa trẻ nữa, phải biết độc lập và tự mình bắt đầu kiếm sống, tự biết làm gì để không đói khát, không ốm đau, không bị lừa đảo khi cưỡi ngựa chung với cánh cao bồi.

Cái đó các cụ đi hoạt động cách mạng gọi là “bài học từ thực tiễn của cuộc sống”. Sách vở thế là đủ rồi, các cháu VN sang hầu hết là học giỏi, có kiến thức cơ bản vững. Nhưng học sống để tồn tại thì nhiều điều phải bàn.

Ngoại ngữ, IT và công dân toàn cầu

Tổng dân số thế giới vào tháng 6-2012 khoảng hơn 7 tỷ người. Năm 2000 có 360 triệu người dùng internet, vào cuối năm 2012 con số này lên tới 2,4 tỷ, tăng tới 566% so với năm 2000.

Trong hơn một thập kỷ qua, Internet phát triển mạnh nhất tại Trung Quốc với 538 triệu người, tăng 1400.

Việt Nam với dân số 91 triệu, năm 2000 có vẻn vẹn 200.000 biết mùi vị net, ba năm sau khi chính phủ cho phép mở internet từ năm 1997.

Tháng 6-2012, con số này đã là 31 triệu, chiếm 1/3 dân số, hầu hết là giới trẻ. Riêng facebook đã có hơn 10 triệu tài khoản đang hoạt động. Mức tăng của Việt Nam cũng chóng mặt, lên tới 1500%, vượt cả người hàng xóm khổng lồ.

Nói thế để biết, PC, iPhone, iPad, IT, internet, facebook, blog, twitter… là hành trang của tuổi trẻ bước vào đời.

Gõ máy tính bằng mười đầu ngón tay, tốc độ 60 từ 1 phút, đừng bắt chước cụ Hồ mổ cò trên máy chữ thời ở Pắc Bó.

Gà mờ mấy thứ đó là coi như trượt từ vòng gửi xe.

Sân thể thao của trường ĐH Georgetown. Ảnh: HM

Sân thể thao của trường ĐH Georgetown. Ảnh: HM

Trên thế giới ảo, tiếng Anh là thông dụng nhất, tiếp theo là tiếng Trung, Tây Ban Nha, Nhật, và Bồ Đào Nha.

Số người dùng tiếng Anh trên internet khoảng 536 triệu, vị trí tiếp sau là tiếng Trung chiếm tới 444 triệu. Cánh trẻ giao tiếp bằng internet là chính.

Dù tiếng Trung có đứng thứ 2, tiếng Nga thân thương của Lê Nin có thứ hạng, dù tiếng Việt mang đậm đà bản sắc dân tộc, nhưng không phải là thứ tiếng mà thế giới đang dùng nhiều.

Đối với người Việt, muốn hội nhập, ngoài chuyện trình độ phải có, chấp nhận văn hóa khác biệt, hiểu quan niệm đa chiều, phải thông thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, không còn cách nào khác.

Bao giờ nước mình mạnh như Hoa Kỳ, giỏi như Do Thái hay Nhật, mafia như Nga, thâm như Tầu,  thế nào thế giới cũng học tiếng Việt như một ngoại ngữ.

Ngoại ngữ không biết và muốn kiên định chủ nghĩa Mác Lê, thì ở nhà làm lãnh đạo chủ chốt hay cán bộ nguồn, đừng du học cho mệt đầu.

Đi phỏng vấn phải cho đàng hoàng

Nếu được trường nào hứa xem xét, phải nghiên cứu kỹ về trường đó. Khi phỏng vấn visa hoặc  nhà trường hỏi thêm thì cũng phải biết khuôn viên của trường to bé ra sao, thành lập từ năm nào, ở bang nào, đứng thứ mấy ở Mỹ.

Vào trang web của trường là ra tất, hoặc google cũng đủ thông tin. Trường nào không có trang web thì đừng xin cho con học. Đơn giản, loại nghèo và dốt đến nỗi không có nổi trang web thì ngang bằng gửi trứng cho ác, dù đó là nước Mỹ.

Người đẹp yêu ai là vì chàng đó hiểu nàng từ chân tơ kẽ tóc. Trường học cũng vậy thôi, có quan tâm thì mới đọc, không biết gì về trường đó xin vào học làm gì.

Không thể có chuyện nghe bạn bảo thế này, chị họ nói thế kia, mà phải có thông tin cụ thể, tự mình đọc, tự mình nhớ.

Kiểu nhờ chung chung, anh ơi xem bên Mỹ có trường nào học tốt, giới thiệu cho con em với, khó mà nên cơm cháo.

Cô bạn hỏi kỹ về việc xin visa có màn phỏng vấn. Mình hỏi, con gái em có xinh không. Ôi, cháu xinh lắm, chân dài, cổ cao, trông như người mẫu, từng dự thi hoa hậu phường. Mình bảo, dễ được lắm.

Ngày xưa (năm 2000), anh Triệu bên Cục Tần số (VNPT) nhờ mình giới thiệu cho con gái sang Mỹ học.

Hôm đến sứ quán, anh lo lắm, dẫn cả cháu đến 53 Trần Phú (VP cũ của WB) cho mình xem mặt và phỏng vấn thử trước.

Vừa nhìn đã choáng, cháu xinh và nhanh nhẹn, tiếng Anh như gió. Mình phán kiểu Cua, chắc chắn được.

Khuôn viên ĐH Georgetown. Ảnh: HM

Khuôn viên ĐH Georgetown. Ảnh: HM

Y như rằng, cô nhân viên sứ quán hỏi vài câu và cộp cái roẹt, mai ra lấy hộ chiếu. Bây giờ chẳng hiểu cháu ở phương trời nào.

Dân phỏng vấn khôn lắm, trông ai trẻ, xinh đẹp, thông minh, là xét nhanh, vì nếu trốn lại thì nước nhận cũng được một công dân…đẹp. Mặt mũi sáng sủa chẳng ai chịu nghèo cả. Cao bồi gọi là immigration (di dân) có chọn lọc :)

Nói vui thế thôi, đi phỏng vấn xin visa, hay qua video, dù chẳng yêu cầu ăn mặc comple cavat, diêm dúa như đi dạ hội, cũng phải sạch sẽ, gọn gàng, bắt mắt chút. Lôi thôi lếch thếch dễ bị trừ điểm.

Bên Mỹ ăn mặc đa dạng, từ cao cấp đến bụi đời, đang comple nhưng lại đi giầy thể thao, váy mốt đi với giày bệt vì đi bộ cho dễ, nhưng tới nơi làm việc lại nghiêm túc.

Nhưng mình chưa sang đó, cứ phải lịch sự chút đã. Khi nào thành công dân, có thẻ xanh, vào rừng cởi truồng cũng chẳng ai nói gì.

Tưởng tượng, một ngày, chị phỏng vấn quay mấy chục người, vài câu, nhắc đi nhắc lại. Cấp visa nhiều khi do cảm tính, mà cảm tính hay hướng tới cái đẹp, khổ thế.

Hàng ngày có hàng triệu người muốn xin vào nước Mỹ, họ rất sợ dân đến rồi ở lỳ, dù đất trống vẫn đủ cho cả 3 tỷ dân Ấn Độ và Trung Quốc vào ở thoải mái.

Ở lại không có công ăn việc làm, hay là tội phạm trốn, rửa tiền, tham nhũng trộm cắp ở nước nhà rồi trốn sang thì sao.

Nếu hỏi, học xong có về không. Nhất định em về, em còn bố mẹ, còn ông bà, anh em, ba bốn người yêu thương, làm sao ở lại xứ lạ được.

Mắt nhìn thẳng vào mắt người đối thoại và phải thật lòng. Kiểu vừa nói vừa cúi mặt xuống, tránh ánh mắt như dân Việt ta hay làm, dân Mỹ tưởng mình che giấu gì đó, mà họ thì chúa ghét nói dối. Cheating is not going to work.

Còn sau này em không về là do em tài hơn Ngô Bảo Châu, giỏi hơn Đàm Thanh Sơn, trường giữ lại làm giáo sư suốt đời. Chuyện này nằm ngoài kế hoạch và do phía Mỹ hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Rất có thể do thằng tây mũi lõ mắt xanh, nó quấn lấy em, nó đòi cưới, nó cho cả green card, rồi xin hộ chiếu, nó cho bừa vào, bây giờ em có con nửa Mỹ nửa Việt, đó không phải là lỗi của em.

Nói tóm lại, gửi con đi học thì đừng lo tiền nhiều hay ít mà nên giúp con có kiến thức cuộc sống và tự bươn chải.

Vĩ thanh 1

Nhớ hồi tháng 8-1970, cả nhà tiễn anh Cua 17 tuổi du học Ba Lan. Bà con trong xã, người cho 1 đồng, người năm hào, cũng được mấy chục, một gia tài lớn lúc đó của cậu học trò bước vào đời.

Riêng ông già chìa bàn tay cho Cua con và nói như có nước mắt “Chẳng có gì cho con, bố chỉ có bàn tay đầy chai sạn này. Con nhớ về thăm nhà là được rồi. Mà con không về nhưng nên người ở đâu đó bố cũng…mừng”.

Làng quê Hoa Lư yêu dấu. Ảnh: HM

Làng quê Hoa Lư yêu dấu. Ảnh: HM

Thằng cu Cua ấy ra đi biệt tích đã gần nửa thế kỷ. Thỉnh thoảng về nhà, nhưng y như khách qua đường.

Nếu gửi con đi học xa, hy vọng chúng thành đạt, bạn hãy như ông già nhà này. Thấy con không quay về là rất…may. Thế mới xứng là bậc sinh thành của công dân toàn cầu. Giang hồ nửa vời, nghe tiếng gà gáy đã nhớ quê, khó mà hội nhập.

Chuyện hôm nay đã dài, xin hẹn lần sau tiếp tục làm thế nào xuống sân bay, khai hải quan, thuê taxi, thuê nhà…cho tới khi nó bế đứa con mắt xanh mũi lõ, da đen hoặc người yêu cùng giới, mang về chào ông bà ngoại mới hết series này :) :roll:

HM. 11-7-2013

Ở CUỐI HAI ĐƯỜNG*

Posted on


Lời chủ Blog: Câu chuyện này và nhiều câu chuyện khác tương tự, nó đơn thuần chỉ nói về thân phận 1 người, 1 số người. Phân tích, suy luận, khái quát ra điều gì thuộc về trình độ, sự trải nghiệm, niềm tin của mỗi người.

Những năm “cải tạo” ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trắm cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi “biên chế” xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái lán lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ “đồng chí cán bộ quản giáo” đến tiếp nhận.

Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào lán. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki NamĐịnh, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: – Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ?

Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tĩnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn Văn Thà, rồi “báo cáo” một số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản “lý lịch trích ngang”.
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ “tội” dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm – bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm – bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
-Trong này có anh nào thuộc Sư 23?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:
-Thưa cán bộ, có tôi ạ.
-Anh ở trung đoàn mấy?
-Trung Đoàn 44.
-Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
-Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên:
-Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
-Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào?
-Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
-Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
-Sau đó cán bộ được trao trả? tôi hỏi.
-Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.

Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi lán được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:

-Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong lán, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng:
-Tôi để một giỏ cá đàng sau lán. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.

Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp “Hoàng Cầm” để luộc sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luộc sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh “chuẩn bị đi về”, anh em tức khắc dấu hết “tang vật” xuống một cái hố đã đào sẵn.

Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no – dù chỉ là no sắn.
Không biết tối hôm ấy, trong giờ “giao ban”, quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ:
-Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:

-Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.

Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
-Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? – một anh tù hỏi.
-Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
***

Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão.

Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Na Uy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Na Uy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Na Uy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.

Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị “hạ tầng công tác” ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.

Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ học. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Na Uy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.

Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái ViệtNam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.

Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nở, đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Na Uy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Na Uy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Na Uy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Na Uy với cô.

Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: “ông Nguyễn Văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn”. Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ Quốc Phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.

Một tháng sau, cô Đoan trở lại Na Uy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn Văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.

Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.

Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ – 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
-Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? tôi hỏi.
-Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:

-Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?

-Ông Thà, Nguyễn Văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan?

-Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. – Tiếng cô gái sụt sùi.
-Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.

Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.

Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.

-Bây giờ cháu đang ở đâu? – Tôi hỏi.
-Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
-Ba cháu bây giờ làm gì?
-Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Na Uy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy một không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau, anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Na Uy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Na Uy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm. Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Na Uy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Na Uy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
***

“Các Anh thân quí,
Khi ngồi viết những dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: “Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại”. Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.
Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian…”
****

Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?
PHẠM TÍN AN NINH

Vương Quốc Na Uy

Thạch Lam và phận nghèo sứ xở

Posted on


Tác giả: Vương Trí Nhàn

Nhiều người đã biết  đoạn văn của Thạch  Lam  trong Theo dòng nói về sự nghèo nàn trong đời sống tinh thần của người mình:
     Phong trào ở nước ta, bất cứ phong trào gì, đều có một tính chung là nông nổi, chỉ hời hợt bề ngoài. Cái mà chúng ta thiếu nhất là sự sâu sắc. Bởi ta không chịu phân tích và suy xét kỹ nên bất cứ vấn đề gì chúng ta cũng không biết được rõ ràng và chu đáo, biết một cách thấu suốt.
      Chúng ta có cái đời sống bên trong rất nghèo nàn và rất bạc nhược. Những tính tình phong phú, dồi dào hay mãnh liệt chúng ta ít có. Chẳng dám yêu cái gì tha thiết và cũng chẳng dám ghét tha thiết, lòng yêu ghét của chúng ta nhạt nhẽo lắm. Chúng ta đổi lòng tín ngưỡng sâu xa ra một tín ngưỡng thiển cận và nông nổi, giữ cái vươn cao về đạo giáo của tâm hồn xuống mực thước sự săn sóc nhỏ bé về ấm no.

       Trong khi tìm đọc thêm về Thạch Lam, chúng tôi còn tìm thấy một bài báo khác, sẽ in dưới đây nó có tính cách bổ sung cho đoạn văn trên.

        Trong bài này (in trên báo Chủ nhật 1940, tờ báo ra tiếp khi Ngày nay đình bản ), Thạch Lam muốn thử làm một công việc khó khăn và hấp dẫn là mang lại cho tâm hồn dân tộc một hình hài, một khuôn khổ một biểu hiện hình thức cụ thể. Cái nghèo được diễn tả khiến người ta buồn đến thắt ruột, bởi nó hầu như đã thành ra một thứ khí hậu, ăn vào cả trong  con người lẫn cảnh vật. Nó là cái tinh thần chính của không gian Việt.
      Chúng ta đi hai bàn tay trắng—cái câu kết đặt ở cuối bài ấy  thường vẳng lên trong tâm trí  tôi với một nỗi buồn tê tái.
       Có một hồi, chúng ta nghĩ khác ông. Ta tưởng ông sai. Ta tưởng chúng ta rất giầu. Và bước vào đời sống hiện đại, quả thật là chúng ta đang có một đời sống khá mầu mè khá ầm ĩ. Nhưng thử nghĩ lại mà xem. Nếu nhìn vào cách ăn mặc nói năng và suy nghĩ của nhiều trọc phú thời nay, chúng ta nhận ra họ vốn xuất phát từ những kẻ rất nghèo, nay ăn cướp ăn cắp được rồi học đòi làm dáng và tưởng mình đổi kiếp – thì nhìn vào cái đời sống sặc sỡ hiện nay nói chung, chúng ta càng hiểu rằng rồi không biết bao giờ, xứ sở mới thật sự giầu có với tất cả ý nghĩa tốt đẹp của sự giầu có thực thụ. 
      Ngoài sự tưởng tượng của Thạch Lam, nghèo khó ở nước mình lại đang đồng nghĩa với hư hỏng, dốt nát, hoang tưởng, tự lừa dối.
     Trong tình hình ấy, phải nói cái câu mà nhà văn đặt ở gần cuối bài  Chúng ta nghèo nàn, nhưng chúng ta biết sự nghèo nàn ấy hóa ra một sự nhầm lẫn. Còn lâu người Việt  mới đi tới cái điều tác giả những Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén… cảm thấy và  mong mỏi cho ta. Mà chừng nào không tự nhận hết được cái nghèo gia truyền của mình và mang ra trò chuyện trao đổi bàn cách vượt lên  thì làm sao cộng đồng ta xứ sở ta có dịp đổi phận để khá lên được?

Dọc đường
Một con đường dài dưới sáng trăng. Hai bên dãy nhà lá thấp, mái tranh cũ như lẩn vào màu trời. Một cây đa lớn trong bóng tối thấp thoáng ánh trăng của vài chiếc bình vôi.

Đấy là một phố chợ nhỏ miền hạ du, một cảnh rất quen mắt ở chốn bùn lầy nước đọng. Trong các căn nhà lụp xụp và tối tăm ấy, sống những gia đình nho nhỏ Annam, những người nghèo hèn mà đời kiếm ăn thật là eo hẹp và chật vật. Những đêm sáng trăng này, họ vui vẻ. Tâm hồn giản dị cuả họ chịu ảnh hưởng của thời tiết một cách mật thiết, không tự biết. Cái vui của họ dễ đến, nhưng mà cũng dễ đi – và tiếng cười của họ có khi nổi lên vô tư lự.
Họ xúm quanh lại ngồi nghe một đám xẩm già, đánh cây đàn bầu gỗ mọt, và ca hát những bài hát tự nghìn xưa vẫn lưu truyền trong dân gian, ai cũng thuộc nhớ, mà lần nào họ cũng vẫn muốn nghe. Những bài hát thương tiếc cái tình tuyệt vọng của anh chài lưới Trương Chi, ngậm ngùi cái tình bằng hữu của Lưu Bình, Dương Lễ, hay tán thưởng lòng can đảm của Thạch Sanh. Muốn cảm động được đám người mộc mạc ấy, những tính tình kia cũng phải thu về giản dị và cổ sơ – những tính tình mới có của người bước vào vòng lễ nghĩa, của những tâm hồn chất phác như những tâm hồn vẫn giữ chất phác kia.
Qua cảm động đến vui cười, chế nhạo và giễu cợt. Những bài vè quê mùa, những câu đố hóm hỉnh, những bài ca hơi chút đĩ thoã và trai lơ. Đánh tam cúc, Đi hái chè, Lấy chồng già, chồng trẻ… bao nhiêu tiếng cười thẳng thắn và hồn nhiên nổi lên khuyến khích và điểm vị cho câu hát. Và cái tiếng cười cợt trong câu hát ấy, hơi đơn sơ và thành thật, láu lỉnh như nháy mắt với người bên cạnh, giễu cợt có khi cay chua nhưng mà không ác ý, có đôi chút triết lý rộng lượng với những hèn yếu của người đời – đó là tiếng cười cợt Annam, của luỹ tre, của ruộng lúa. Lên đến cao nguyên, vùng rừng vùng núi, tiếng cười câu hát ấy đã thêm một chút man mác, rộng rãi nhớ thương, thêm một chút buồn xa xôi và tưởng nhớ.

Ai là người cúi xuống góp nhặt và thưởng thức những bông hoa trong nội cỏ đất nhà ấy, giữ lấy mùi hương thơm mát mẻ và kín đáo, từ xưa vẫn thấm nhuần cảnh vật quanh ta?

Một chuyến đò ngang, một xó chợ, một đầu đường… chỗ nào có dăm ba người nghe là có đám xẩm xoan lên tiếng. (Dễ thử đến có khi chẳng có ai nghe nữa, mà một ông cụ xẩm cũng vẫn gẩy đàn và ca hát, đôi mắt đưa lên như cố hình dung những bóng người tưởng tượng, và lắng tai nghe chờ đợi không biết đến bao giờ một tiếng đồng trên chậu thau..). Cái giọng hát xẩm thật là một giọng hát đặc Annam. Hay là tôi tưởng thế, bởi vì mỗi lần nghe cái giọng hát buồn buồn, tầm thường và quê mùa ấy, là mỗi lần tôi thấy như đè nén, quằn quại trên tâm hồn tôi, cái tâm hồn hèn mọn và nhẫn nại của giống nòi  của cả đồng ruộng nghèo nàn và bạc bẽo phủ sương chiều. Tôi không muốn một bài ca hùng hồn, hăng hái, đầy những công việc xuất thế, anh hùng, bởi vì không phải thật là như thế. Tôi nhận ra cái hèn mọn, nghèo nàn kia, nhận một sự buồn mà người ta phải chịu vậy, nhưng mà tôi yêu mến, thiết tha cái linh hồn thật của đất nước ấy, là linh hồn của tôi, có những ràng buộc chặt chẽ, những rung động thẳng ngay đến bên trong. Cái giọng hát quê mùa, không có gì là cao quý nhẫn nại, không có gì là siêu việt, là cái giọng hát đã làm cảm động những người cùng giống với tôi, những người sống chật vật, khó khăn, nhưng mà vẫn vui vẻ, vẫn tin trời, không ghen ghét mà cũng chẳng thù hằn ai. Trên manh chiếu rách giải ngay mặt đất đó, đã diễn ra bao nhiêu lần cái cảnh sinh hoạt của người bình dân Annam. Tiếng đàn, nhị  một điệu nhắc đi nhắc lại, quen thuộc và êm ả, như trên cánh đồng lúa, ngày lại ngày, năm rồi qua năm khác, đem lại cũng chừng ấy công việc, chừng ấy vui buồn.

Đường, chợ chúng ta sẽ vắng lạnh, nếu không còn giọng ca hát nữa.
Làn khói rắc buổi chiều ở đầu làng, vì không có gió đưa, nên là là sát mặt đất để lẩn vào dải sương mù bắt đầu rơi xuống cánh đồng. Tiếng ếch nhái xanh rờn trên ruộng mạ. Và bóng người dãi qua cái quán gạch giữa cánh đồng, cái quán gạch giờ này trơ vơ và lạnh lẽo.

Bạn có nhận thấy cứ đến buổi chiều sương phủ, những làng mạc xa xa hình như thu bé lại, thấp xuống, thấp xuống để lẫn với đất ruộng, còn cánh đồng mênh mang bóng tối thì từ từ dâng lên ngang với chân trời? Giờ khắc ấy, ở đâu ra mà khắp cả, trên dưới và khắp bốn phương, hình như tiết ra ở cảnh vật, ở cây cỏ, ở ruộng nương, một nỗi buồn thấm thía, không đâu, một nỗi buồn vừa chán nản vừa chua xót, khiến người ta bỗng dưng thấy lạnh lẽo, thấy lẻ loi? Tranh giành, chiến đấu bấy giờ thấy vô ích và quá sức yếu ớt của mình. Phải dễ dãi, phải thân mật, để được gần gụi người khác cho thêm ấm cúng.
Đó là cái mạch buồn riêng của đất nước nhà, âm thầm như dòng suối dưới nội cỏ, cái mạch buồn hiu hắt chảy trong sông, hay xa xôi theo dải đê đến tận chân trời. Cảnh của ta tuy nhiều nơi thật là đơn sơ, bằng phẳng, nhưng có vẻ riêng biệt cám dỗ chúng ta. Chúng ta tha thiết mến yêu có lẽ vì cảnh vật như một tấm gương, và chúng ta thấy chiếu vào trong đó hình ảnh và tâm hồn của chính chúng ta.

Chúng ta nghèo nàn, nhưng chúng ta biết sự nghèo nàn ấy.
Dọc đường cái quan, ngày xưa, còn có chiếc cầu dịp đá, và bóng đưa của những cái cáng xanh. Những ngày rực rỡ, còn có võng lọng tưng bừng của một ông nghè về vinh quy, với cô gái quê má lúm răng đen, gọn mình trong chiếc võng, âu yếm nhìn ông tân khoa, chồng ta, và do công ta thức khuya dậy sớm hái dâu dệt lụa để chàng ăn học.

Bây giờ những cái đó đã mất rồi, mà trên đường, chúng ta chưa có cái gì khác thay vào. Chúng ta đi, hai bàn tay trắng.

Thư gửi các con của một bà mẹ Việt ở Mỹ

Posted on Updated on


Tác giả: Phan Hương

Các con thân yêu,

Thế là lại kết thúc một năm học!

Sáng nay mẹ đến dự lễ “tốt nghiệp” lớp 4 của em Tâm.  Ở bên Mỹ không có lễ khai giảng hay bế giảng long trọng với trống dong, cờ mở, với khấu hiệu và những bài diễn văn. Tất cả chỉ gói gọn trong một buổi gặp mặt thân mật ấm cúng giữa thầy cô, học sinh và phụ huynh.  Mấy hôm trước mẹ đã đăng ký mang dưa hấu đến buổi liên hoan hôm nay. May là mẹ đăng ký sớm không thì hết suất vì rất nhiều phụ huynh muốn đóng góp. Phải công nhận ở bên này các nhóm phụ huynh học sinh hoạt động thật hiệu quả, mẹ chưa bao giờ làm trưởng nhóm nhưng vẫn luôn cố gắng đóng góp chút gì đó cho những buổi liên hoan của lớp.

Hôm nay hai lớp làm chung, tổng cộng có khoảng 40 học sinh cùng với bố mẹ, chắc số người tham dự khoảng hơn 100 người. Sau lời giới thiệu của hai cô giáo, mẹ được em Tâm dẫn đi coi những gì em đã làm trong suốt mấy tháng qua. Mấy dãy dài máy tính là nơi mà em và các bạn đã miệt mài viết về những quyển sách đã đọc, những nhân vật, những con người mà em yêu thích hoặc ngưỡng mộ.  Em chọn viết về Harry Potter, bộ truyện được rất nhiều các bạn ở lứa tuổi như em ưa thích. Em chọn viết về tiểu sử của Steve Jobs, một con người đặc biệt với rất nhiều thăng trầm, cũng là người đã làm ra những chiếc máy tính em đang dùng. Nhìn một thư viện đầy sách với những chiếc bàn xinh xắn, những chiếc ghế bọc đệm màu xanh, mẹ chợt nghĩ các con đã thật may mắn được học ở một môi trường quá tuyệt vời!

Phải, các con đã rất may mắn được sinh ra và lớn lên ở một đất nước văn minh, một đất nước tự do với rất nhiều sự lựa chọn, giúp con người ta phát triển tối đa khả năng sáng tạo; được học ở những ngôi trường tốt nhất với một nền giáo dục uyển chuyển, linh hoạt, giúp các con phát triển về mọi mặt cả về trí tuệ lẫn thể lực.

Đọc những điều này chắc các con sẽ chẳng hiểu gì đâu nhưng mẹ có thể đưa ra cho các con một vài ví dụ cụ thể:

– Khi các con bước vào vỡ lòng, mặc dù sinh ra và lớn lên ở Mỹ nhưng nhà trường vẫn chuẩn bị sẵn những lớp học tiếng Anh dành riêng cho những bạn có tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh như các con. Lớp tiếng Anh này có từ cấp 1 lên cấp 3. Nhờ vậy mà có rất nhiều bạn có thể theo kịp lớp sau một thời gian ngắn sang Mỹ, mặc dù trước đó không biết một chữ tiếng Anh!

– Khi các con bắt đầu học chữ cái, ngoài nhận biết mặt chữ, người ta rất chú trọng cách phát âm của những chữ đó để khi đánh vần các từ, các con có thể tự suy luận từ cách phát âm. Việc đánh vần sai là chuyện bình thường và cô giáo cũng không sửa khi viết sai chính tả. Lúc đầu mẹ  ngạc nhiên về cách dạy này lắm nhưng sau này mẹ mới hiểu tiếng Anh phát âm như thế nào thì đánh vần như thế đó, tất nhiên có những nguyên tắc mà đến bây giờ mẹ vẫn chưa hiểu hết.

 – Các con không phải lo luyện vở sạch chữ đẹp, thêm vào đó chữ viết ở đây đã được cải tiến đến mức không thể đơn giản hơn được nữa. Có thể vì ở Mỹ họ cho rằng sau này tất cả mọi người đều dùng máy tính và trên máy tính thì có hàng chục kiểu phông chữ, muốn uốn lượn, viết thẳng, viết nghiêng, nét thanh nét đậm, kiểu gì cũng có cho nên khỏi phải luyện chữ làm gì.

 – Dù học tiếng Anh, học toán, hay các môn khoa học, ngoài sách vở với những tranh ảnh minh họa hấp dẫn, các con luôn được nhà trường hoặc bố mẹ tìm cho những website vừa học vừa chơi, vô cùng sinh động giúp các con hiểu mọi vấn đề một cách dễ dàng hơn. Khi có những vấn đề thời sự nóng hổi như bầu cử Mỹ, động đất ở Haiti, sóng thần ở Nhật Bản… thỉnh thoảng các con vẫn được nhà trường phát cho tạp chí Times for Kids để hiểu được những gì đang diễn ra quanh mình.

 – Khi các con bắt đầu tập viết những đoạn văn ngắn rồi từ đó dần dần học cách viết truyện, các con luôn được khuyến khích viết bất kể điều gì mình thích.  Cho đến bây giờ mẹ vẫn còn giữ các mẩu truyện các con viết. Chẳng hạn truyện “Carl and his adventure” (Cuộc phiêu lưu của Carl – HTN) anh Tuệ viết, kể về chính mình và cậu em trai “hay gây phiền phức” của anh ấy. Hoặc truyện  “Tâm and his underground adventure” (Cuộc phiêu lưu trong lòng đất của Tâm – HTN) cũng là một câu chuyện được viết bởi trí tưởng tượng và xen lẫn thực tế.

 – Rồi mẹ đã ngạc nhiên khi một hôm em Tâm về hỏi mẹ “Mẹ có biết tại sao cờ nước Mỹ lại có 13 sọc trắng đỏ nằm ngang và một hình chữ nhật màu xanh đậm ở góc với 50 ngôi sao trắng?” rồi em say sưa giải thích “13 sọc trắng tượng trưng cho 13 bang đầu tiên của nước Mỹ còn 50 ngôi sao tượng trưng cho toàn bộ 50 bang hiện có”. Và mẹ nhận ra rằng đó chính là cách các con học lịch sử, đơn giản vậy thôi nhưng nhờ vậy mà nhớ lâu. Cách đây 2 tuần mẹ đã giúp anh Tuệ viết một bài phân tích về cuốn tiểu thuyết “To Kill the Mocking Bird” (Giết con chim nhại – HTN), tác giả Harper Lee được xuất bản từ năm 1960, được tái bản nhiều lần và còn được dựng thành phim. Cuốn truyện nói về vấn đề kỳ thị, phân biệt chủng tộc giữa người da trắng và da đen ở Mỹ. Đó là một phần của lịch sử nước Mỹ. Cô giáo đã đưa ra nhiều gợi ý và anh Tuệ đã chọn viết về “Justice” tức là sự công bằng của mọi người trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ không phân biệt màu da, giới tính, tôn giáo… Những bài tập kiểu này rất nhiều, nó cho phép các con tự tìm tòi nghiên cứu, tự nói lên suy nghĩ, chứng kiến của mình.

 – Gần đây anh Tuệ bắt đầu đọc những truyện nói về lứa tuổi của anh ấy như “The Outsiders” (Người ngoài cuộc – HTN), tác giả S.E. Hinton và “We beat the street: How a Friendship Pact Led to Success” (Tuổi trẻ hè phố: Bạn bè đồng lòng dẫn tới thành công – HTN) được viết bởi ba người bạn Sampson Davis, George Jenkins và Rameck Hunt. Đây đều là những câu chuyện có thật nói về tình anh em, tình bạn mà nhờ nó những cậu thanh niên với những gia cảnh khác nhau,  bị bao bủa bởi tội phạm, ma túy… đã phải đấu tranh gay gắt với chính mình, với những cám dỗ xung quanh để thay đổi số phận. Mẹ đã đọc những quyển sách đó và nhận thấy rằng ở Mỹ người ta không tô vẽ một xã hội công bằng, văn minh mà người ta đưa ra những bức tranh thực tế nhất, kể cả khi nó xấu xí, bẩn thỉu, gai góc nhưng từ đó lại toát lên tình người, đạo đức sống.

 – Trong tất cả các tiết học, anh Tuệ vẫn nói anh ấy thích nhất giờ thể dục (Gym). Anh ấy ước ao giá như ngày nào cũng được đi tập thể dục tiết đầu, nhờ đó mà anh ấy tỉnh ngủ. Phải rồi, giờ thể dục các con được làm quen với tất cả các môn thể thao từ chạy nhảy, bóng đá, bóng rổ đến bóng ném, bóng chày… Trường học nào cũng có ít nhất một phòng tập lớn và bên ngoài thì có một sân bóng rộng. Trường cấp 3 thì có thêm bể bơi, đường chạy…

Các con thân yêu!

Để kể hết những cái “lý tưởng” về môi trường các con đang học thì nhiều lắm.  Mẹ không có ý định chỉ ca ngợi nước Mỹ bởi nước Mỹ cũng có nhiều vấn đề lắm, kể cả trong trường học. Mẹ lại càng không có ý định so sánh giữa môi trường của các con với môi trường của mẹ ngày xưa bởi sự so sánh đó rất khập khiễng. Tuy nhiên mẹ muốn nói một điều với các con rằng các con đang có được những gì tốt nhất mà cả bố và mẹ đã phấn đấu rất nhiều để mang lại cho các con. Chẳng riêng gì bố mẹ đâu mà tất cả các ông bố bà mẹ khác đều như vậy. Nhiều bạn bè của mẹ cũng chỉ vì chuyện học hành của con cái mà cố gắng trụ lại trên đất Mỹ mặc dù cuộc sống đôi lúc cũng căng thẳng, mệt mỏi, trống trải, tù túng lắm. Mẹ còn biết rất nhiều người khác làm lụng vất vả ở Việt Nam, cố gắng dành dụm chỉ để gửi con sang Mỹ học…

Kỷ niệm về trường Normale

Posted on Updated on


Tác giả: Ngô Bảo Châu

Khi mới tới Pháp vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, có rất nhiều điều làm tôi thắc mắc. Có thắc mắc lớn, có thắc mắc nhỏ. Một trong những thắc mắc nhỏ là tại sao trên trang đầu của sách giáo khoa, của sách giáo trình đại học, ngay dưới tên tác giả thường có dòng chữ in nghiêng có nội dung khá giống nhau. Ví dụ như:  “Agrégé d’histoires, ancien élève de l’Ecole Normale Supérieure” (Thày giáo sử, cựu học sinh trường Sư phạm cao cấp).

Tôi đem cái thắc mắc của mình đến chỗ ông Jacques Vauthier, giáo sư đại học Paris 6, người đỡ đầu tôi vào thời gian đó. Ông Vauthier cười và nói rằng, đấy là cái cách người Pháp làm duyên. Đúng là làm duyên kiểu tây rồi, nhưng như ai đó đã nói, mình phải có thế nào thì mới có thể duyên được đến thế. Tôi trả lời ông Vauthier là ở nước tôi, không thấy ai xưng là học sinh cũ của trường hay của học viện nào, thay vào đó họ hay xưng bằng bốn năm chữ viết tắt in hoa, dễ gây hiểu lầm và đoán mãi mới ra.

Sau khi học một năm ở trường Paris 6, ông Vauthier gửi tôi qua trường Normale với tư cách “dự thính viên tự do”. “Tự do” ở đây hoá ra lại không bằng “không tự do”. Học sinh “không tự do” của trường Normale trước đó đã phải cầy bừa hai năm ở “lớp chuẩn bị”, chuẩn bị cho cuộc thi tuyển gắt gao vào các “trường lớn” của Pháp mà trong đó hai nơi danh giá nhất là trường Normale và trường Polytechnique. Đậu vào hai trường này, học sinh nghiễm nhiên có biên chế công chức tập sự, được hưởng một mức lương tập sự, không hẳn là cao, những cũng vời vợi so với mức học bổng của sinh viên bình thường. “Dự thính viên tự do” như tôi không phải học lớp chuẩn bị, không thi tuyển, nhưng cũng không có biên chế và tất nhiên là không có lương. Sau đó, có lẽ do được chiếu cố đến “ý chí phấn đấu”, tôi được chuyển sang ngạch “học sinh chính thức không lương”, nhưng trong thâm tâm, tôi thấy mình vẫn mãi là một “dự thính viên tự do”.

Tâm lý “dự thính viên tự do” một phần xuất phát từ rào cản văn hoá và ngôn ngữ, nhưng lý do chính là tôi không tham gia vào hai cuộc “thử lửa” căn bản của học sinh trường Normale. Thử lửa thứ nhất là cuộc thi tuyển vào trường đã nêu ở trên, thử lửa thứ hai là cuộc thi agrégation, mà theo một nghĩa nào đó là kỳ thi tốt nghiệp ra trường.

Mục đích của cuộc thi agrégation là xây dựng đội ngũ tinh nhuệ cho ngành giáo dục phổ thông của Pháp. Trang Học Thế Nào đã đăng bài của tác giả Nguyễn Lan Hương giới thiệu những nét chung nhất về cuộc thi này. Ở đây, tôi sẽ chỉ bổ sung những chi tiết về cuộc thi mà tôi biết qua những người bạn đồng môn, những người dành một hoặc nhiều năm để dùi mài kiến thức, chuẩn bị cho nó.

Thi có hai vòng: vòng một thi viết, những thí sinh vượt qua vòng thi viết mới được tham gia vòng hai là vòng thi nói. Ở vòng thi nói, thí sinh được bắt thăm để có hai đề bài trong bộ đề mà mỗi năm ban giám khảo phải xây dựng lại. Thí sinh được quyền chọn một trong hai đề mà mình bắt thăm. Đề không phải là bài tập để giải, mà là một chuyên đề để “đứng lớp”. Các anh chị thí sinh có ba tiếng để chuẩn bị cho bài giảng của mình. Họ cũng được sử dụng sách trong thư viện và sách của mình mang theo. Đến giờ thi, thí sinh có 50 phút để trình bày đề cương bài giảng, sau đó phát triển đề cương đó. Bài giảng chuẩn bị trước thì đặt ngay trên bàn, nhưng không được xem, trừ khi bí quá! Không chỉ có ban giám khảo, mà ai muốn vào nghe bài giảng cũng được, nhưng phần lớn người ta không muốn người thân của mình vào nghe, vì nhiều khi những ánh mắt chan chứa thân thương làm thí sinh quên hết công thức.

Cả bài thi viết lẫn bài thi nói đều bám sát chương trình dạy học phổ thông hoặc các lớp chuẩn bị, chứ không nhất thiết chạy theo những tiến bộ khoa học tiên tiến nhất. Nhưng cuộc thi agregation được coi là một trong những cuộc sát hạch khó nhất, đặc biệt là ở các môn xã hội, vì mỗi năm chỉ có một số biên chế hạn chế. Một người bạn của tôi, bây giờ là giảng viên đại học và là một chuyên gia rất có uy tín trong lĩnh vực của mình, đã từng bỏ ra nhiều năm để thi agrégation lịch sử mà không đậu. Thế mới thấy, có những người có thể nghiên cứu khoa học tốt, một giảng viên đại học khá, nhưng không thể được xếp vào đội ngũ tinh nhuệ của giáo viên phổ thông.

Theo truyền thống, kỳ thi agrégation được coi như một dạng tốt nghiệp không chính thức của trường Normale. Gần đây, xu hướng đã khác đi nhiều. Nhiều học sinh phân ban toán và tự nhiên bỏ thi agrégation để làm thẳng luận văn tiến sĩ. Nhiều học sinh phân ban xã hội cũng bỏ agrégation để chọn con đường liên thông sang Trường hành chính quốc gia, Trường khoa học chính trị… Xu hướng này có từ thời tôi còn học ở đó. Một người bạn khá thân của tôi dạo ấy, khi thi vào trường thì đỗ thủ khoa về văn chương cổ điển, vậy mà cương quyết từ chối theo đuổi nghiệp giáo dục để chuyển sang ngạch pháp lý.

Jean-Baptiste La Salle, người được nhà thờ thiên chúa giáo phong Thánh và là Thánh bảo trợ cho các thầy cô giáo chính là người sáng lập ra trường Normale đầu tiên (ông đi ngược lại “chỉ đạo” của chính Giáo hội thiên chúa giáo). Chữ Normale ở đây mang nghĩa “chuẩn mực”. Cái quan trọng nhất trong việc đào tạo và tuyển chọn thầy cô giáo chính là tính chuẩn mực. Cuộc sống hiện đại đầy biến động đã làm mai một đi mô hình truyền thống đào tạo và tuyển chọn giáo viên ở Pháp, nhưng tôi tin rằng cái tính chuẩn mực truyền thống thì vẫn còn đó.

Những kỷ niệm lan man về trường Normale mà tôi vừa thuật lại, hy vọng sẽ gợi ra những gì cần làm cho giáo dục Việt Nam. Bên cạnh những việc quan trọng khác, như đẩy lùi tham nhũng trong giáo dục, dò xét, tu chỉnh chương trình học và sách giáo khoa, việc không thể quên là nâng cao chất lượng nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên. Tôi tin rằng để làm được việc này, cần xây dựng một đội ngũ tinh nhuệ để làm nòng cốt, và để các giáo viên trẻ có hướng phấn đấu. Những con người ưu tú này cần được phát hiện, bồi đắp, trao trách nhiệm… ngay từ khi họ còn trẻ. Tuyệt đối không đợi đến lúc họ gần về hưu rồi mới được phong cho họ danh hiệu nhà giáo ưu tú cách mà chúng ta làm như hiện nay. Việc tuyển chọn phải dựa trên một cuộc thi, trong đó thi vấn đáp trên mô hình là một giờ “đứng lớp”, phải là then chốt. Và đó phải là một cuộc thi với số lượng hạn chế chỉ tiêu đỗ.  Nó rất khác với cách chúng ta đang làm hiện nay là phổ cập bằng thạc sĩ trong toàn ngành giáo dục, để đẻ ra những đề tài tốt nghiệp thạc sĩ với chất lượng thấp, đôi khi thấp đến mức khôi hài. Đó là cách làm phi chuẩn mực, mỵ dân và chỉ có hại.

Hà Nội, mùa hè năm 2013

Ngô Bảo Châu

Cựu học sinh trường Sư phạm cao cấp (Ecole Normale Supérieure)

Trải nghiệm ngày hội khoa học tại Mỹ

Posted on Updated on


Tác giả:  Nguyễn Hữu Hoàng

Từ lúc còn học đại học ở Việt Nam, tôi đã mơ về nước Mỹ với nền giáo dục hiện đại, có những trường đại học với nền khoa học kĩ thuật nông nghiệp tiên tiến mà chẳng mảy may nghĩ đến một ngày nào đó tôi sẽ bước chân vào trường trung học và kinh ngạc trước những gì tôi học được từ những đứa trẻ lớp 6. Quả thật, đã 3 năm ở Mỹ, trải  3 mùa Hội Khoa học (Science fair), đây vẫn là một trong những trải nghiệm đáng nhớ của tôi trên đất nước này.

Ngày Hội Khoa học là một cuộc thi mang quy mô toàn nước Mỹ. Bắt đầu từ cấp địa phương, cấp hạt, cấp bang và cuối cùng là cấp liên bang. Mục đích của cuộc thi này là dạy cho học sinh đặt câu hỏi, đặt vấn đề cho chính mình, khơi gợi tính sáng tạo, đồng thời cũng nhằm phát hiện và tuyên dương những học sinh có năng khiếu khoa học đặc biệt.

Vào đầu mỗi mùa Thu, các trường trung học ở Mỹ thường gửi thư  điện tử đến trường đại học và một số doanh nghiệp trong vùng để mời học viên sau đại học và một số viên chức đăng kí làm giám khảo. Tôi thường chọn cho mình một trường gần nhà để tiện việc đi lại. Hai tuần sau, tôi nhận được thư cảm ơn của trường, ghi rõ lịch hẹn, có bản đồ, chỉ dẫn đậu xe, người liên hệ… Với chuyên ngành học là nông nghiệp, tôi thường được phân công chấm những bài thi thực vật của học sinh lớp 6 và lớp 7.

Đến ngày hẹn, chúng tôi tự mình tìm đến trường và được giáo viên hướng dẫn vào một phòng họp. Tại đây mọi người được nghe trình bày ngắn gọn về một số quy tắc làm việc và ứng xử với thí sinh, nguyên tắc chấm thi… Chúng tôi tự xếp mình vào các nhóm 5-7 người rồi tiến vào hội trường nơi trưng bày các tác phẩm dự thi. Nhóm của tôi có một chú cảnh sát, một ông kế toán, còn lại là giáo viên về hưu và học viên sau đại học. Con đường từ phòng họp đến hội trường tuy ngắn nhưng những vật chất và trang thiết bị dạy học làm tôi không khỏi bồi hồi khi nghĩ về quê nhà. Ước gì trẻ con của mình cũng được như vậy.

Phòng thi là một nhà thi đấu thể thao lớn với rất nhiều poster, sản phẩm dự thi cùng thí sinh đứng bên cạnh chuẩn bị thuyết trình. Đây mới thực sự là lúc cuộc chơi bắt đầu trở nên thú vị. Xin giới thiệu một vài hình ảnh, bài thi và thí sinh khiến tôi không thể không suy nghĩ về các bạn trẻ Mỹ.

Trước tiên, xin nói sơ qua, một trong những yêu cầu bắt buộc của cuộc thi này là thí sinh phải tự đặt ra cho mình một câu hỏi/giả thuyết về bất kì vấn đề nào đó và sau đó bằng mọi cách tự tìm câu trả lời cho câu hỏi của mình, chứng minh giả thuyết đặt ra là đúng hay sai. Bạn sẽ tìm thấy cái khuôn này ở mọi đề tài: Tên đề tài, vấn đề đặt ra, giả thuyết, giới thiệu, vật liệu, phương pháp, kết quả, giải thích, và tài liệu tham khảo. Dù chỉ là sản phẩm của học sinh lớp 6 tự làm nhưng nhiều bài thi tỏ ra chuyên nghiệp một cách bất ngờ, thuyết trình một cách suôn sẻ như một nhà khoa học thực sự.

Olivia

Ảnh đề tài: Nước tiểu chó có gây độc cho cỏ hay không?

Đề tài: Nước tiểu chó có gây độc cho cỏ hay không? Olivia bật mí cho tôi biết phần khó nhất là… làm sao lấy được nước tiểu chó. Sau một tháng không thể thu được nước tiểu từ 3 chú chó cưng, em tự mày mò tài liệu và quyết định thay thế bằng dung dịch ammoniac 9.3g/L. Em thử nghiệm trên 4 loại cỏ và lặp lại 2 lần. Giám khảo bất ngờ tập 1!!!

Jonathan

Một hình ảnh trích ra từ bài dự thi của Jonathan.

Một hình ảnh trích ra từ bài dự thi của Jonathan. Đây là một trong những đề tài làm tôi bất ngờ nhất. Em cho rằng cây cà chua lấy dinh dưỡng từ đất, do phải bơm lên ngọn nên tốn năng lượng. Nếu trồng lộn ngược xuống thì chắc cây sẽ nhiều trái hơn. Giám khảo bất ngờ tập 2!!!

Jonathan-2

Hình ảnh khác từ bài dự thi của Jonathan

Jonathan cho tôi biết điều quan trọng nhất em học được sau dự án này là cách sử dụng excel để tính toán và so sánh thí nghiệm.

Tim

Đề tài: Kính hiển vi tự chế

Đề tài: Kính hiển vi tự chế. Tim cho chúng tôi thấy có thể xem được tế bào vảy hành và tinh thể muối ăn. Em tự làm từ những đồ chơi có sẵn ở nhà.

Sandra với câu hỏi: Âm nhạc ảnh hưởng đến cây cối như thế nào? Em rất yêu âm nhạc và cây cỏ nên đã thực hiện đề tài này. Mỗi ngày em cho cây nghe nhạc 2h, đủ mọi thể loại nhac và có thấy một chút khác biệt.

Sandra

Âm nhạc ảnh hưởng đến cây cối như thế nào?

Đề tài được đánh giá cao nhất trong vòng thi cấp trường thuộc về Nalini K. Em đánh giá tác động của biến đổi khí hậu lên năng suất cây trồng (Shorgum). Để thực hiện được đề tài này em đã dành cả mùa hè của mình làm việc tại Đại học Florida với sự hướng dẫn của một giáo sư và một học viên sau đại học. Tôi hỏi Nalini một câu hỏi ngẫu nhiên về tác động của nhiệt độ lên sự nảy mầm của hạt phấn. Việc em có thể trả lời với mức hiểu biết của một sinh viên đại học chuyên ngành sinh học khiến tôi và các giám khảo khác đều tỏ ra kinh ngạc.

Nalini

Nalini với đề tài của mình

Đề tài đoạt giải là những đề tài có ý tưởng hay, phương pháp chứng minh chặt chẽ, ghi chép theo dõi rõ ràng, và phải có phương pháp thống kê chính xác.

Không phải đề tài nào cũng mang hàm lượng khoa học cao. Jenni và Alex là hai bạn trẻ thích ăn bánh nên thử nghiệm các loại ngũ cốc khác nhau để làm bánh, sau đó… tự ăn bánh để đánh giá chất lượng. Trẻ em Mỹ được dạy kĩ năng giao tiếp từ sớm nên rất tự tin khi thuyết trình.

Jenni và Alex

Jenni và Alex

Cuộc thi không phải 100% khoa học mà vẫn có nhiều chỗ cho yếu tố “vui là chính”. Một số học sinh mặc dù không có phương pháp tốt nhưng chúng có những ý tưởng khiến giám khảo phải kinh hoàng.

Tony

Dự án của Tony tìm hiểu tác động của thức ăn lên… mùi rắm. Với thí sinh này tôi bó tay toàn tập!!!

Pete với câu hỏi đặc biệt của mình: Kiểu tóc ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ chạy? Cậu cho rằng nếu cậu để kiểu tóc trái dừa sẽ chạy nhanh hơn nhiều so với khi cắt đầu đinh.

Pete

Pete và kiểu tóc giúp cậu chạy nhanh

Học sinh được khuyến khích tham gia cuộc thi bằng điểm cộng. Chúng nhận được sự hỗ trợ của giáo viên, giáo sư trường đại học, sinh viên, và bố mẹ trong quá trình thực hiện đề tài nhưng sản phẩm cuối cùng phải thực sự là sản phẩm của học sinh. Phần lớn các gia đình ở Mỹ không làm bài tập thay cho con, nếu có thì chỉ sau vài câu hỏi là giám khảo có thể xác định và loại ra ngay. Các bạn trẻ nhận được giải thưởng đều là những nhà khoa học tiềm năng trong tương lai. Những hoạt động tương tự như thế này cũng thường được tổ chức hàng năm tại một số quốc gia châu Âu và Úc, không chỉ ươm mầm cho thế hệ trẻ mà còn tạo điều kiện cho công chúng tiếp xúc với khoa học.

Thay cho lời kết, thông qua một vài hình ảnh trích lược và trải nghiệm của mình, tôi muốn gửi đến bạn đọc trẻ một hoạt động có ý nghĩa và một vài ý tưởng điên rồ mà không kém phần thú vị cho cuộc sống.

Thích thú với câu hỏi mà các em đặt ra, tôi cũng tự hỏi mình: Khi nào thì tôi đi chấm cuộc thi này ở Việt Nam?

Câu chuyện nước Mỹ: Gửi con…du học

Posted on Updated on


Tác giả: Hiệu Minh, nguồn Hieuminh.org

Tháp ngà ĐH Georgetown ở DC. Ảnh: HM

Mấy tuần rồi, có cô bạn tự nhiên thăm hỏi rối rít, dù mấy chục năm trước chẳng biết mình đi đâu.

Anh dạo này thế nào, có khỏe không, vợ đã bỏ chưa, con cái học hành ra sao. Tóc bạc nhiều không, hàm răng giả ngày xưa em tặng nay còn dùng.

 

Kinh nghiệm cho biết, nàng sẽ nhờ cái gì đó. Nhân bảo như thần bảo, sau khi vòng vo Tam quốc, cô hỏi, anh ơi, em cho con gái sang Mỹ học đại học, nên chuẩn bị gì. Em muốn đi theo để nấu cơm, giặt rũ cho cháu. Nhà em có 30.000 đô la đủ cho cháu học không?

Câu này nghe hàng trăm lần rồi, nhưng không có câu trả lời cụ thể. Mình nghĩ đây cũng là đề tài hay nên viết vài entry tặng bà con hang Cua, biết đâu có ngày cần cho con cháu thành công dân toàn cầu thì sao.

Cũng không phải chỉ đi Mỹ thôi đâu, đi nước khác cũng vậy, kể cả du học ở cố đô Hoa Lư cũng đúng luôn.

Nghĩ được gì viết nấy, chẳng có lớp lang, ý tứ gì, bà con thông cảm. Ai có kinh nghiệm đóng góp, cùng chia sẻ.

Kỹ năng sống độc lập – Bắt đầu là rửa bát, quét nhà

Nghe cô bạn hỏi dồn dập, mình trả lời đại, cứ cho cháu sang, thế nào cháu cũng lớn mỗi năm một tuổi và quay về thăm bố mẹ vài lần trước khi định cư tại Mỹ.

Chỉ nhớ một điều, nước Mỹ là nước Mỹ, nước mình là CHXHCN VN, hai quốc gia, hai dân tộc khác nhau hoàn toàn.

Trong khi chờ đợi cuộc cách mạng vô sản thành công tại Hoa Kỳ thì ta cứ phải theo pháp luật của tư bản. Những thói ở thiên đường bên nhà mang theo sang Mỹ đôi khi không hợp, thành xung đột văn hóa và có thể phạm luật.

Mấy năm trước, có thằng cu sinh viên Việt ở California, lấy dao dọa bạn, bị cảnh sát đến còng tay và đánh một trận nhớ đời. Dù có thắng kiện nhưng cu cậu hiểu ra một điều, Mỹ khác Việt Nam.

Nền giáo dục và gia đình Việt nuôi con theo kiểu gà chọi, phần đông cha mẹ cơm bưng nước rót, con chẳng phải làm gì, chỉ ăn, học và ngủ, suốt 12 năm liền.

Nếu thi vào đại học thành công coi như công ơn được đền đáp. Ra trường có công ăn việc làm, tiền của nhiều, nó sẽ phụng dưỡng mình khi về già. Nếu thất bại, bố mẹ nuôi báo cô.

Vì thế, khi con rời tổ ấm, ra đi một mình, ai mà chẳng lo.

Cô bạn than, con em chẳng biết luộc trứng, không biết nấu cơm, nhìn miếng thịt đông lạnh chẳng biết đập thế nào cho tan đá. Bây giờ mà sang Mỹ ăn uống thế nào. Nói rồi nàng khóc tu tu, dù con đã có trường nào nhận đâu.

Du học phải biết rửa bát. Ảnh: HM

Lỗi tại bọn trẻ ư. Các cụ đẻ chúng ra mà không dạy nên người là do lỗi của…”nơi sinh”. Sorry. Dân trí kém, quan trí thấp là do dân, vì dân và từ dân mà ra cả.

Giáo dục Mỹ dạy trẻ học để ra đời học tiếp phần đời còn lại. Làm công nhân cũng ok, làm kỹ sư cũng được, nếu tiện, làm tổng thống cũng chẳng sao.

Vì thế, dù bọn trẻ Mỹ cũng gà mờ khi ra trường, nhưng khi cần, chúng tiếp cận cuộc sống mới nhanh hơn, bởi tất cả những kỹ năng đã được học và thực tập từ lúc còn bé do cha mẹ, nhà trường và xã hội hướng dẫn.

Tổng Cua chỉ khuyên đơn giản thế này. Trong lúc chờ đợi xin các trường thông báo nhận học, các bậc cha mẹ nên dạy các cháu biết rửa bát, quét nhà, biết tự giặt quần áo, biết nấu cơm, biết ăn bánh mỳ với bơ, học nấu súp, biết cách luộc trứng 3 phút, biết làm tan đá cho miếng thịt.

Nếu cần, để cháu nấu vài bữa cho cả nhà, chịu khó ăn mặn, nuốt nhạt chút. Học nấu ăn sẽ biết cách sống tự lập khi không còn cha mẹ bên cạnh. Quan trọng nhất là không chết đói. Người sống đống của, các cụ nói cấm sai.

Nhắc các cháu ăn uống không nhai tóp tép, không lấy tay ngoáy mũi như bác Hiệu Minh, không khạc nhổ như bác Hồ Thơm, không văng bậy chửi thề như bác Xang Hứng, không đá đểu như lão Cu Sờ (QX), làm thơ thì phải biết song ngữ như anh Tịt, không hiểu tiếng Anh phải hỏi lại, đừng nhe răng cười như người đẹp Kim Dung :lol:

Nói chuyện răng miệng cũng phải cẩn thận. Răng thì phải đến nha sỹ cạo cho sạch cao. Bên Mỹ đi thi vấn đáp hay tuyển việc với hàm răng nham nhở, thò ra thụt vào, dính cả phở lẫn hành thì…chắc trượt.

Từ chuyện nhỏ sẽ học được chuyện lớn. Các cô các cậu 17-18 tuổi không phải là đứa trẻ nữa, phải biết độc lập và tự mình bắt đầu kiếm sống, tự biết làm gì để không đói khát, không ốm đau, không bị lừa đảo khi cưỡi ngựa chung với cánh cao bồi.

Cái đó các cụ đi hoạt động cách mạng gọi là “bài học từ thực tiễn của cuộc sống”. Sách vở thế là đủ rồi, các cháu VN sang hầu hết là học giỏi, có kiến thức cơ bản vững. Nhưng học sống để tồn tại thì nhiều điều phải bàn.

Ngoại ngữ, IT và công dân toàn cầu

Tổng dân số thế giới vào tháng 6-2012 khoảng hơn 7 tỷ người. Năm 2000 có 360 triệu người dùng internet, vào cuối năm 2012 con số này lên tới 2,4 tỷ, tăng tới 566% so với năm 2000.

Trong hơn một thập kỷ qua, Internet phát triển mạnh nhất tại Trung Quốc với 538 triệu người, tăng 1400.

Việt Nam với dân số 91 triệu, năm 2000 có vẻn vẹn 200.000 biết mùi vị net, ba năm sau khi chính phủ cho phép mở internet từ năm 1997.

Tháng 6-2012, con số này đã là 31 triệu, chiếm 1/3 dân số, hầu hết là giới trẻ. Riêng facebook đã có hơn 10 triệu tài khoản đang hoạt động. Mức tăng của Việt Nam cũng chóng mặt, lên tới 1500%, vượt cả người hàng xóm khổng lồ.

Nói thế để biết, PC, iPhone, iPad, IT, internet, facebook, blog, twitter… là hành trang của tuổi trẻ bước vào đời.

Gõ máy tính bằng mười đầu ngón tay, tốc độ 60 từ 1 phút, đừng bắt chước cụ Hồ mổ cò trên máy chữ thời ở Pắc Bó.

Gà mờ mấy thứ đó là coi như trượt từ vòng gửi xe.

Sân thể thao của trường ĐH Georgetown. Ảnh: HM

Trên thế giới ảo, tiếng Anh là thông dụng nhất, tiếp theo là tiếng Trung, Tây Ban Nha, Nhật, và Bồ Đào Nha.

Số người dùng tiếng Anh trên internet khoảng 536 triệu, vị trí tiếp sau là tiếng Trung chiếm tới 444 triệu. Cánh trẻ giao tiếp bằng internet là chính.

Dù tiếng Trung có đứng thứ 2, tiếng Nga thân thương của Lê Nin có thứ hạng, dù tiếng Việt mang đậm đà bản sắc dân tộc, nhưng không phải là thứ tiếng mà thế giới đang dùng nhiều.

Đối với người Việt, muốn hội nhập, ngoài chuyện trình độ phải có, chấp nhận văn hóa khác biệt, hiểu quan niệm đa chiều, phải thông thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, không còn cách nào khác.

Bao giờ nước mình mạnh như Hoa Kỳ, giỏi như Do Thái hay Nhật, mafia như Nga, thâm như Tầu,  thế nào thế giới cũng học tiếng Việt như một ngoại ngữ.

Ngoại ngữ không biết và muốn kiên định chủ nghĩa Mác Lê, thì ở nhà làm lãnh đạo chủ chốt hay cán bộ nguồn, đừng du học cho mệt đầu.

Đi phỏng vấn phải cho đàng hoàng

Nếu được trường nào hứa xem xét, phải nghiên cứu kỹ về trường đó. Khi phỏng vấn visa hoặc  nhà trường hỏi thêm thì cũng phải biết khuôn viên của trường to bé ra sao, thành lập từ năm nào, ở bang nào, đứng thứ mấy ở Mỹ.

Vào trang web của trường là ra tất, hoặc google cũng đủ thông tin. Trường nào không có trang web thì đừng xin cho con học. Đơn giản, loại nghèo và dốt đến nỗi không có nổi trang web thì ngang bằng gửi trứng cho ác, dù đó là nước Mỹ.

Người đẹp yêu ai là vì chàng đó hiểu nàng từ chân tơ kẽ tóc. Trường học cũng vậy thôi, có quan tâm thì mới đọc, không biết gì về trường đó xin vào học làm gì.

Không thể có chuyện nghe bạn bảo thế này, chị họ nói thế kia, mà phải có thông tin cụ thể, tự mình đọc, tự mình nhớ.

Kiểu nhờ chung chung, anh ơi xem bên Mỹ có trường nào học tốt, giới thiệu cho con em với, khó mà nên cơm cháo.

Cô bạn hỏi kỹ về việc xin visa có màn phỏng vấn. Mình hỏi, con gái em có xinh không. Ôi, cháu xinh lắm, chân dài, cổ cao, trông như người mẫu, từng dự thi hoa hậu phường. Mình bảo, dễ được lắm.

Ngày xưa (năm 2000), anh Triệu bên Cục Tần số (VNPT) nhờ mình giới thiệu cho con gái sang Mỹ học.

Hôm đến sứ quán, anh lo lắm, dẫn cả cháu đến 53 Trần Phú (VP cũ của WB) cho mình xem mặt và phỏng vấn thử trước.

Vừa nhìn đã choáng, cháu xinh và nhanh nhẹn, tiếng Anh như gió. Mình phán kiểu Cua, chắc chắn được.

Khuôn viên ĐH Georgetown. Ảnh: HM

Y như rằng, cô nhân viên sứ quán hỏi vài câu và cộp cái roẹt, mai ra lấy hộ chiếu. Bây giờ chẳng hiểu cháu ở phương trời nào.

Dân phỏng vấn khôn lắm, trông ai trẻ, xinh đẹp, thông minh, là xét nhanh, vì nếu trốn lại thì nước nhận cũng được một công dân…đẹp. Mặt mũi sáng sủa chẳng ai chịu nghèo cả. Cao bồi gọi là immigration (di dân) có chọn lọc :)

Nói vui thế thôi, đi phỏng vấn xin visa, hay qua video, dù chẳng yêu cầu ăn mặc comple cavat, diêm dúa như đi dạ hội, cũng phải sạch sẽ, gọn gàng, bắt mắt chút. Lôi thôi lếch thếch dễ bị trừ điểm.

Bên Mỹ ăn mặc đa dạng, từ cao cấp đến bụi đời, đang comple nhưng lại đi giầy thể thao, váy mốt đi với giày bệt vì đi bộ cho dễ, nhưng tới nơi làm việc lại nghiêm túc.

Nhưng mình chưa sang đó, cứ phải lịch sự chút đã. Khi nào thành công dân, có thẻ xanh, vào rừng cởi truồng cũng chẳng ai nói gì.

Tưởng tượng, một ngày, chị phỏng vấn quay mấy chục người, vài câu, nhắc đi nhắc lại. Cấp visa nhiều khi do cảm tính, mà cảm tính hay hướng tới cái đẹp, khổ thế.

Hàng ngày có hàng triệu người muốn xin vào nước Mỹ, họ rất sợ dân đến rồi ở lỳ, dù đất trống vẫn đủ cho cả 3 tỷ dân Ấn Độ và Trung Quốc vào ở thoải mái.

Ở lại không có công ăn việc làm, hay là tội phạm trốn, rửa tiền, tham nhũng trộm cắp ở nước nhà rồi trốn sang thì sao.

Nếu hỏi, học xong có về không. Nhất định em về, em còn bố mẹ, còn ông bà, anh em, ba bốn người yêu thương, làm sao ở lại xứ lạ được.

Mắt nhìn thẳng vào mắt người đối thoại và phải thật lòng. Kiểu vừa nói vừa cúi mặt xuống, tránh ánh mắt như dân Việt ta hay làm, dân Mỹ tưởng mình che giấu gì đó, mà họ thì chúa ghét nói dối. Cheating is not going to work.

Còn sau này em không về là do em tài hơn Ngô Bảo Châu, giỏi hơn Đàm Thanh Sơn, trường giữ lại làm giáo sư suốt đời. Chuyện này nằm ngoài kế hoạch và do phía Mỹ hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Rất có thể do thằng tây mũi lõ mắt xanh, nó quấn lấy em, nó đòi cưới, nó cho cả green card, rồi xin hộ chiếu, nó cho bừa vào, bây giờ em có con nửa Mỹ nửa Việt, đó không phải là lỗi của em.

Nói tóm lại, gửi con đi học thì đừng lo tiền nhiều hay ít mà nên giúp con có kiến thức cuộc sống và tự bươn chải.

Vĩ thanh 1

Nhớ hồi tháng 8-1970, cả nhà tiễn anh Cua 17 tuổi du học Ba Lan. Bà con trong xã, người cho 1 đồng, người năm hào, cũng được mấy chục, một gia tài lớn lúc đó của cậu học trò bước vào đời.

Riêng ông già chìa bàn tay cho Cua con và nói như có nước mắt “Chẳng có gì cho con, bố chỉ có bàn tay đầy chai sạn này. Con nhớ về thăm nhà là được rồi. Mà con không về nhưng nên người ở đâu đó bố cũng…mừng”.

Làng quê Hoa Lư yêu dấu. Ảnh: HM

Thằng cu Cua ấy ra đi biệt tích đã gần nửa thế kỷ. Thỉnh thoảng về nhà, nhưng y như khách qua đường.

Nếu gửi con đi học xa, hy vọng chúng thành đạt, bạn hãy như ông già nhà này. Thấy con không quay về là rất…may. Thế mới xứng là bậc sinh thành của công dân toàn cầu. Giang hồ nửa vời, nghe tiếng gà gáy đã nhớ quê, khó mà hội nhập.

Chuyện hôm nay đã dài, xin hẹn lần sau tiếp tục làm thế nào xuống sân bay, khai hải quan, thuê taxi, thuê nhà…cho tới khi nó bế đứa con mắt xanh mũi lõ, da đen hoặc người yêu cùng giới, mang về chào ông bà ngoại mới hết series này :) :roll:

HM. 11-7-2013

Việt Nam ơi.

Posted on Updated on


Tác giả: Lưu Quang Vũ

Những áo quần rách rưới
Những hàng cây đắm mình vào bóng tối
Chiều mờ sương leo lắt đèn dầu
Lũ trẻ ngồi quanh mâm gỗ
Lèo tèo mì luộc canh rau

Mấy mươi năm vẫn mái tranh này
Dòng sông đen nước cạn
Tiếng loa đầu dốc lạnh
Tin chiến trận miền xa

Những người đi chưa về
Những quả bom hầm hào sụt lở
Những tên tướng những lời hăm dọa
Người ta định làm gì Người nữa
Việt Nam ơi?

Mấy mươi năm đã mấy lớp người
Chia lìa gục ngã
Đã tận cùng nỗi khổ
Người ta còn muốn gì Người nữa
Việt Nam ơi?
Người đau thương, tôi gắng gượng mỉm cười
Gắng tin tưởng nhưng lòng tôi có hạn
Chiều nay lạnh, tôi nghẹn ngào muốn khóc
Xin Người tha thứ, Việt Nam ơi

Tổ quốc là nơi tỏa bóng yên vui
Nơi nghĩ đến lòng ta yên tĩnh nhất
Nhưng nghĩ đến Người lòng tôi rách nát
Xin Người đừng trách giận, Việt Nam ơi

Tôi làm sao sống được nếu xa Người
Như giọt nước bậu vào bụi cỏ
Như châu chấu ôm ghì bông lúa
Người đẩy ra tôi lại bám lấy Người
Không vì thế mà Người khinh tôi chứ
Việt Nam ơi.

Không vì tôi đau khổ rã rời
Mà Người ghét bỏ?
Xin Người đừng nhìn tôi như kẻ lạ
Xin Người đừng ghẻ lạnh, Việt Nam ơi

Người có triệu chúng tôi, tôi chỉ có một Người
Tất cả sẽ ra sao
Mảnh đất nghèo máu ứa?
Người sẽ đi đến đâu
Hả Việt Nam khốn khổ?
Đến bao giờ bông lúa
Là tình yêu của Người?

Đến bao giờ ngày vui
Như chim về bên cửa?
Đến bao giờ Người mới được nghỉ ngơi
Trong nắng ấm và tiếng cười trẻ nhỏ?
Đến bao giờ đến bao giờ nữa
Việt Nam ơi?

(Lưu Quang Vũ – Tập thơ Bầy Ong Trong Đêm Sâu)

Dân rào làng “kháng chiến”: Chuyện khó tin

Posted on


Lời chủ Blog: Bài báo dưới đây được đăng hẳn trên báo “lề phải” khiến tất cả những ai còn lương tri và lòng trắc ẩn không khỏi giật mình, băn khoăn trước thế cuộc rối ren. Không thể tượng tượng nổi Đảng ta trăm tay nghìn mắt, bộ máy chính quyền, đoàn thể trùng trùng, điệp điệp đến tận thôn, bản mà để người dân đơn thương chống trả những bất công, đe dọa cuộc sống ngay giữa thời bình, thời ‘Độc lập, tự do, hạnh phúc”.

(VTC News) – Làng quê đang bình yên, bỗng đâu dân lập chiến lũy để ngăn chặn “xã hội đen” xâm phạm cuộc sống của họ, trong khi chính quyền vào cuộc có phần chưa quyết liệt.

Bài 1: Dựng lều, rải đá chặn xã hội đen

Suốt gần tháng nay, một làng quê nhỏ ở Hải Dương sống trong cảnh tượng vô cùng lạ lùng, không khác gì thời chiến. Sự vào cuộc có phần không quyết đoán của chính quyền, đã dẫn đến phản ứng tiêu cực từ người dân.

Dân trong thôn đã tự sắm kẻng, đào đường, đổ đá chặn đường, rèn một số loại vũ khí để sẵn sàng đối đầu với xã hội đen. Câu chuyện tưởng như rất kỳ cục này lại đang hiện hữu ở đất nước thời bình. Đây thực sự là lời cảnh báo nghiêm trọng về công tác quần chúng của chính quyền địa phương.

Những ngày này, về Hải Dương, đâu đâu cũng bàn tán chuyện “chiến sự” ở làng Châu Xá (Duy Tân, Kinh Môn, Hải Dương). Đất Duy Tân nổi tiếng với ngôi chùa Nhẫm Dương, nơi phát hiện hàng loạt di chỉ khảo cổ, trong đó, quan trọng nhất là hóa thạch vượn người Pôn-gô.

Điều đó khẳng định rằng, đất nước Việt Nam chính là một trong những cái nôi sản sinh ra vượn người, là gốc tích của loài người hiện đại. Nhưng giờ, con đường vào vùng đất có bề dày văn hóa, khảo cổ và tâm linh ấy vắng bóng người qua lại.

Thi thoảng, chỉ thấy tiếng xe máy nẹt pô, rú ga phóng vun vút vào làng, rồi lại vun vút lao ra. Các đối tượng ngồi trên xe máy đều đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang kín mít. Tôi được người dân cảnh báo rằng, đó toàn là xã hội đen, chúng vào làng rình mò, theo dõi động tĩnh của dân làng (?!).

Đến thị trấn Phú Thứ, hỏi đường vào thôn Châu Xá, một anh nhìn tôi kỹ càng rồi hỏi: “Không sợ mất mạng hay sao mà mò vào đó làm gì? Nếu là người lạ thì đừng có dại dột mà vào làng. Họ mà đánh kẻng, cả làng cầm gậy gộc, gạch đá ùa ra thì mất mạng như chơi đấy”.

Nhiều con đường ở Châu Xá được nhân dân rải đá để chống lại xã hội đen

Nghe lời cảnh báo ấy, tôi cũng thấy chờn chợn, tuy nhiên, cây ngay không sợ chết đứng, tôi bỏ mũ bảo hiểm, đi xe máy tà tà, chầm chậm vào làng. Tôi dừng lại trước một dãy nhà bên đường, giữa cánh đồng, chìm nghỉm trong màu không khí nhờ nhờ do khói từ những nhà máy xi măng nhả ra.

Nhà nào cũng cổng kín then cài, gọi cửa mãi mới thấy một cụ ông lò dò hé cửa trong hỏi vọng ra: “Ai đấy?”. Tôi cất giọng, giới thiệu là nhà báo, tức thì cụ ông mở cửa, ngó phải nhìn trái, rồi mở cổng mời tôi vào.

Ông giới thiệu là Lê Văn An, 70 tuổi, bộ đội về hưu. Ông An bảo: “Bác từng có mấy chục năm trong quân ngũ, ra sống vào chết bao lần rồi, nhưng bác thấy làng mình bây giờ chẳng khác gì đang có chiến sự, đang ở thời kỳ chống Mỹ. Bác thấy buồn vì chính quyền ở đây xa rời dân quá. Con giun xéo lắm cũng phải quằn”.

Trình bày cảm xúc một lúc, rồi ông An kể: “Sở dĩ người dân bức xúc tày đình như những ngày qua, là vì chính quyền xã đã không đứng về phía dân một cách quyết liệt.

Người dân dựng lán, lập chốt ngăn chặn nhà máy hóa chất gây ô nhiễm

Mấy lần họp cựu chiến binh, mọi người đều đem chuyện nhà máy xây dựng trái phép ra bàn, và đều nhất quyết yêu cầu chính quyền xã đóng cửa nhà máy. Khi nhà máy hoạt động, nhả ra khí thải màu xanh lè, khiến dân ngộp thở, khiến cá chết, vịt chết, dân kiện cáo, mới lòi ra cái chuyện nhà máy xây dựng không phép giữa làng.

Bức xúc ở chỗ, nhà máy to như quả núi xây dựng không phép mà lãnh đạo xã không biết, thế nhưng, một ngôi mộ của dân xây vào đất ruộng thì biết ngay, sai dân quân đi đập ngay”.

Tâm sự đến khi bức xúc dịu xuống, ông Lê Văn An lấy mũ, lập cập trèo lên xe áp tải phóng viên vào sâu trong làng. Ông bảo, người lạ vào làng không có người trong làng áp tải thì mất mạng như chơi.

Đến giữa cánh đồng gặp một con đường bê tông cắt ngang đường chính. Con đường này dẫn từ núi ra, bị chặn bởi những đống đá hộc.

Cứ vài mét lại có một đống đá. Con đường thẳng tắp, cờ xí phấp phới như thể có hội. Từ đầu đường, xuyên sâu vào trong núi, cứ vài mét lại có một đống đá nhỏ. Những tảng đá hộc nằm lăn lóc giữa đường.

Đi một đoạn thì thấy con đường bị đào đứt đôi, chỉ còn lại “con lươn” nhỏ, đủ cho xe máy đi qua. Đất đá phá đường được múc lên đổ thành đống, chặn ngang đường, xe ô tô không thể trèo qua được. Ông An bảo, nhân dân phá đường như thế để xe ô tô, xe xúc, xe ủi không đi qua được.

Nhìn con đường dẫn vào Nhà máy Trường Khánh, như thể có chiến sự, với hào sâu, đống trụ cản đường xe tăng!

Thấy chiếc xe máy lách từng đống đá đi trên “con đường chiến sự” giữa cái nắng chang chang, hàng chục người buông bát, bỏ đũa chui ra khỏi lều, lấy tay che trán quan sát.

Cụ Phạm Văn Áp thể hiện quyết tâm đối đầu với xã hội đen

Lúc sau, tôi mới biết, cụ ông Phạm Văn Áp đã cầm búa, lên dây cót tinh thần, chuẩn bị đánh kẻng báo hiệu. Tuy nhiên, khi phát hiện “người lạ” chở ông Lê Văn An, người trong làng, thì mọi người thở phào nhẹ nhõm.

Chiếc lán được dựng lên ở một đầu đường để mọi người nghỉ ngơi, và chiếc rạp lớn được dựng lên giữa ngã tư đường để mọi người ngồi uống nước, trò chuyện, chơi cờ.

Điều tôi thấy lạ lùng nhất, ấy là mấy chục “chiến binh” chống lại “xã hội đen”, như lời đồn đại ầm ĩ trong vùng, toàn là ông già và bà già. Trong số đó, phân nửa mặc áo nâu sồng, nhai trầu bỏm bẻm.

Người cao tuổi nhất là cụ ông Phạm Văn Áp, người được giao nhiệm vụ đánh kẻng. Cụ Áp năm nay 80 tuổi, trán hói, răng rụng gần hết, nhưng tính tình thì vui vẻ phải biết.

Cụ bảo: “Tôi đồn trú ở đây 17 ngày đêm, hao mất 5kg rồi. Hôm qua tranh thủ về nhà một tí mà vợ không nhận, chó mèo cũng không nhận ra nữa rồi. Tôi phải quyết tử chiến đấu vì con, vì cháu, vì ngôi làng này.

Thời chúng tôi, cái làng nhỏ này có đủ 4 hướng để thở, nhưng đến đời con cháu chúng tôi, thì họ xây dựng nhà máy xi măng, bịt mất 3 hướng rồi. Còn mỗi hướng để thở, giờ họ dựng cái nhà máy hóa chất bịt nốt, thì chỉ có con đường chết.

Mới mấy hôm trước thôi, bọn xã hội đen còn chỉ vào mặt chúng tôi thách thức, nói rằng sẵn sàng san bằng thôn này, di chết hết cả thôn. Chúng nó còn nói chúng nó chưa từng lùi bước ở bất kỳ đâu.

Chúng nó nói thật và làm thật, nhưng chúng nó đã phải lùi bước trước người dân Châu Xá chúng tôi. Tôi từng này tuổi rồi, chết được rồi, nghĩa địa lại ở cánh đồng đây, tôi sẽ không ngại đổ máu”.

Nói rồi, cụ ông Phạm Văn Áp đứng trước lá cờ Tổ quốc, hiên ngang ngẩng mặt, yêu cầu nhà báo chụp cho tấm ảnh để đăng báo, để tự hào với con cháu, dân làng, vì thành tích chống lại xã hội đen!.

Ông Lê Đức Tài, trưởng thôn Châu Xá cho biết: “Sự việc ầm ĩ kể từ khi dân phát hiện Công ty Trường Khánh thuê 2 lô đất của xã, trong đó, một lô để làm lò sản xuất vôi, một lô để làm môi trường sinh thái, khu vui chơi, nhưng công ty này lại xây dựng nhà máy sản xuất hóa chất Pro Niken. Người dân cho rằng chính quyền làm ngơ cho công ty này xây dựng nhà máy trái phép. Trong khi đó, nhân dân lại cho rằng nhà máy này sản xuất hóa chất, gây ô nhiễm môi trường, nên nhân dân rất bức xúc, dẫn đến sự việc đáng tiếc như ngày hôm nay.

Bài tới: Thực hư chuyện cả trăm xã hội đen càn quét dân làng?

BÀI CA SỰ THẬT

Posted on


Tác giả: Trần Mạnh Hảo

Sự thật của tôi
Sự thật của anh
Sự thật của chúng ta
Sự thật của mọi người?
Nhân loại có bao thời
Sự dối trá làm quan tòa phán xử
Bru-nô ơi trái đất vẫn tròn
Mà chân lý nghìn sau còn trả giá
Nhưng đất nước vẫn đi tìm sự thật
Trong câu hát có mồ hôi nước mắt
Có con nghê đá đầu đình cười cợt các triều vua
Có thằng Bờm chẳng tin lời hứa hão
Cái quạt mo không để phú ông lừa
Vua Hùng ơi Người đi tìm sự thật
Bằng cách ngày đầu năm xuống ruộng cày bừa
Bao triều đại xưa đổ vì ưa nói dối
“Muốn nói gian làm quan mà nói”
Sự thật giấu trong nhà dân đen
Sự thật từng vật vờ đi như ăn mày đầu đường xó chợ
Sự thật làm anh hề, chú mõ
Sự thật như nàng Thị Kính oan khiên
Sự thật trốn vào ngụ ngôn, ngạn ngữ sấm truyền
Sự thật có khi mượn Xúy Vân mà giả dại
Sự thật chiếc lá đa bay qua bao thời đại
Bay về đây trời nổi can qua
Con vua thất thế quét chùa sãi ơi!
Vĩnh biệt chú Cuội
Vĩnh biệt thành tích ma, báo cáo láo thành thần
Bệnh hình thức gọi sai tên sự vật
Người đói phải nói lời no
Vị đắng sao lại kêu là mật?
Ngục tù mang nhãn hiệu tự do!
Vĩnh biệt khái niệm quét vôi và từ ngữ nước sơn
Đạo đức dính trên đầu môi chót lưỡi
Vĩnh biệt những bóng ma cơ hội
Những cái đầu già cỗi tự bên trong
Những con mắt nhìn người bằng bóng tối
Có nhận ra tia nắng mới trong lòng?
Tôi là người tập yêu sự thật
Tập nghe nên có lúc ù tai
Tập nhìn nên chói mắt
Đất nước đổi thay
Cơn đau đẻ những dòng sông quằn quại!
Hạt thóc và hạt máu có bao giờ nói dối?
Bốn nghìn năm dân tộc tôi
Đi từ bờ bên kia
Đến bờ bên này của sự thật
Để mỗi con người hôm nay trên mặt đất
Được cầm trong tay một tia nắng mặt trời…
Sài Gòn ngày 15-1-1987