Month: Tháng Sáu 2013

Thế này mà gọi là pháp luật ư?

Posted on


Tác giả Nguyễn Thông

Hoàn toàn tôi chả muốn thả chữ nào về vụ án xử mấy cô gái bán dâm và môi giới bán dâm bữa qua. Chẳng qua tôi không muốn dính vào trò xử đó. Nhưng báo chí thì cứ lồng lộn lên, báo in báo mạng, đài phát thanh, truyền hình, cả chính thống lẫn không chính thống. Vậy mà cuối cùng cầm lòng chẳng đậu. Nhưng dứt khoát không nói chi về “tội” của mấy cô gái đó, chỉ nói chuyện tòa, chuyện báo.

Xứ ta hầu như ngày nào cũng mở tòa, ngày nào cũng kết án. Tội phạm nhiều, luật hình lắm nên tòa bận rộn. Tuyên đúng người đúng tội là đương nhiên, nhưng oan sai cũng chả thiếu. Cái cần xử kín thì hở toang toác, vụ cần công khai thì lại dấm da dấm dúi. Nhìn vào chỗ thần công lý ngự trị nhiều khi thấy cũng nực cười.

Giở lại vụ xử mấy cô gái trên. Tất nhiên các cô ấy phạm luật, mà đã vi phạm thì phải chịu sự phán xét của pháp luật, nên tôi không có ý bênh họ (phải nói trước ra như thế). Xứ ta cấm hành nghề mua bán dâm. VN chứ không phải Hà Lan hay nước Đức. Không có phố đèn đỏ, chỉ luật đỏ thôi, vượt lằn ranh thì ráng chịu. Nhưng…

Đối với người đàn bà, hầu hết khi chọn sự bán dâm để sống tức là đã chả còn cách nào khác phù hợp với chính mình. Chấp nhận sự khinh rẻ của cộng đồng, xã hội. Vì tham tiền, muốn hưởng thụ, lười lao động, ham muốn thân xác, bị đẩy vào bước đường cùng… thôi thì đủ thứ lý do. Muốn lên án họ thế nào cũng được. Những cô bán dâm nhưng vẫn cố ý giấu diếm tức là trong họ vẫn còn chút mong muốn quay trở lại cuộc sống bình thường. Vậy mà tòa nỡ lòng nào, báo chí truyền thông nỡ lòng nào phơi bày giữa thanh thiên bạch nhật. Ừ thì để cảnh báo, để làm gương, để rút ra bài học, để kẻ khác thấy mà chừa. Nhưng liệu có hồ hởi hăng hái tàn nhẫn thái quá chăng khi chưa xử đã công bố ngày này ngày nọ lôi ra tòa, khi xử thì mở cửa không khác gì tháo khoán cho người đến coi mặt bọn “đĩ” (dư luận kháo như thế), mời đủ cơ quan báo chí truyền thông, muốn quay phim chụp ảnh phỏng vấn cứ thoải mái. Phòng xử chật ních. Nhà báo đông hơn kiến cỏ. Có cảm giác nếu xử trùm phát xít Hitler cũng không đến nỗi thế. Mấy “cô gái sông Hương” ấy co ro nhưng con giun con dế giữa tòa, trong vòng vây trùng điệp của những người có nhân cách hơn họ. Dù tòa có tuyên án nhẹ, án treo, thậm chí trả tự do ngay sau đó thì cũng đã phăng một nhát dao tàn nhẫn chặt nốt đường về của họ. Phụ giúp đắc lực cho tòa là những anh chị nhà báo hăng hái kia, những người từng đọc leo lẻo truyện Kiều “chữ trinh còn một chút này/Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan”. Lôi người đàn bà đang mắc nợ nhân phẩm ra trước chợ người, liệu tòa có chút băn khoăn nào không nhỉ? Dí cái ống kính máy ảnh vào tận mặt người ta trong giới hạn cuối cùng của lương tâm, thử hỏi các nhà báo có cảm thấy đắng chát lòng không nhỉ?

Giá như xử “mấy tên phản động” Hà Vũ, Điếu Cày, tòa lôi ra công khai thế này, cho báo chí tung hoành tác nghiệp thế này để dân tình thấu hiểu “tội lỗi của chúng” có phải hợp lý hợp tình không. Và ngược lại, với mấy cô gái ấy, lôi toẹt vào cái phòng kín, cấm tiệt bọn báo chí, ngắt điện tivi, thì dù án tuyên thế nào chăng nữa cũng vẫn có chút tình người.

 

Xem tin nguồn: http://ttxva.org/the-nay-ma-goi-la-phap-luat-u/#ixzz2XZfuYKxE
Follow us: thongtanxavanganh on Facebook

Cái đủ cho một quan chức

Posted on


Theo RFA

Con người đó – với bề ngoài chẳng khác mấy một người đạp xích lô, nhưng bên trong lại chan chứa một trái tim ủ máu đồng loại. Trái tim đó thật quá dị biệt với những xác phàm luôn trương nứt bởi máu của kẻ đói rách.

“Tri túc thường túc” hẳn là một lời tri âm luôn được tuyên giáo cửa miệng trong giới quan chức, nhưng lại trở nên hiếm có trong một trường hợp hiếm hoi quan chức cộng sản như Nguyễn Sự – người giữ chức vụ bí thư thành ủy Hội An và vừa thêm một lần nữa biểu tả cho cái đủ của một chức quan: nói đi đôi với làm.

Mùa hè năm 2013, Nguyễn Sự đã trở thành bí thư thành ủy đầu tiên trong lịch sử đương đại của Đảng cộng sản trực tiếp bắt cướp.

Sự kiện quá đỗi hy hữu này xảy ra vào đêm ngày 22/6, khi ông Sự đang chỉ đạo đảm bảo an ninh trật tự sự kiện tái hiện Đêm phố cổ đầu thế kỷ 20 phục vụ cho Festival Di sản Quảng Nam lần thứ 5. Phát hiện một thanh niên có hành tung nghi hoặc, ông đã bám theo. Đúng lúc thanh niên này giật sợi dây chuyền vàng của một du khách, y đã bị vị bí thư thành ủy Hội An “bắt nóng”.

Sự kiện trên diễn ra trong bối cảnh Việt Nam vẫn tiếp tục thụt lùi trên bảng xếp hạng của Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI). Kết thúc năm 2012, quốc gia này yên vị ở thứ 123 trong số 176 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng lại tụt đến 11 bậc so với năm 2011.

Cùng diễn biến theo chỉ số cảm nhận tham nhũng của TI, một dư luận không thể lu mờ là nhiều “công bộc của dân” đang có tài sản vun vén gấp đến hàng chục ngàn lần gia sản của một hộ nông dân, chưa tính đến hình ảnh “năm gia đình nuôi chung một con bò” hay những đứa trẻ vùng xa phải bắt chuột thay cơm.

Người cán bộ về hưu.

“Tay này hay lắm!”

“Tri túc thường túc, chung thân bất nhục – Anh phải tự biết thế nào là đủ! Nói thật, nếu bây giờ một tháng anh thu một tỷ đồng đi chăng nữa nhưng nếu ham muốn của anh ghê gớm lắm thì anh vẫn cảm thấy thiếu. Phải biết “tri túc” thôi. Không chỉ nhìn lên mà phải nhìn xuống nữa. Như ở xã Cẩm Thanh quê tôi, 95% số gia đình có công với cách mạng, 70% là gia đình liệt sĩ. Tôi nhìn những gia đình liệt sĩ đó và tôi nhìn những cán bộ từ thời kháng chiến bây giờ về hưu, có thu nhập rất thấp, thì phải thấy rằng, bây giờ mình đang sướng gấp nhiều lần các đồng chí ấy. Thậm chí có những Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi “chế độ” được đưa về buổi sáng, thì buổi chiều bà đã mất rồi, không được hưởng ngày nào. Cuộc chiến tranh đã đi qua rồi và những người đi trước chúng ta đã ngã xuống, nhưng vẫn còn bao nhiêu những cảnh đời như vậy thì xót ruột lắm, mà mình không làm cách nào khác được!” – Nguyễn Sự đã trải lòng như thế với một phóng viên.

Trong cái lạnh khắc nghiệt Hà Nội vào tháng 3/2013, tâm cảm ấm áp giữa con người với con người chợt bồng bột nhen nhóm. “Tay này hay lắm! Lần đầu tiên Giải thưởng Phan Châu Trinh trao cho một quan chức nhà nước đấy, mà rất xứng đáng” – giáo sư Hồ Ngọc Đại nói với tiến sỹ Nguyễn Quang A trong lúc ông Nguyễn Sự đọc diễn từ nhận giải.

Trong lời tôn vinh trao giải thưởng Vì sự nghiệp văn hóa giáo dục cho ông Nguyễn Sự, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh đã đặc tả: “Là một nhà lãnh đạo có quan hệ rất rộng rãi và thân thiết với nhiều nhà khoa học uyên bác, nhiều nhà văn hóa – giáo dục tâm huyết, lại gắn bó sâu sắc với nhân dân trong đời sống hằng ngày, Nguyễn Sự đã thật sự thu hút được về mình cả tầm cao và chiều sâu trí tuệ và tâm hồn của họ, để trở thành người truyền cảm hứng cho Hội An, một trong những không gian văn hóa độc đáo của nước ta ngày nay…”.

Liệu những lời lẽ trên có cường ngôn hay quá đáng không?

Hội An lại vừa kỷ niệm 10 năm nhận danh hiệu Di sản văn hóa thế giới và cù lao Chàm cũng vừa được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Nhiều người dân kể rằng Hội An được như ngày hôm nay là nhờ công của ông Nguyễn Sự.

Nhiều nhà báo trong nước, dù chỉ một lần đặt chân đến Hội An, đã không khỏi chạnh lòng cho những vùng du lịch khác. Họ thốt lên trên trang viết: cái thành phố bé nhỏ, chỉn chu như một bài thơ Đường luật, đi bộ dọc ngang cũng chưa đủ khiến người ta mỏi gối chồn chân mà ám ảnh chi lạ! Hội An mở cửa với Tây phương thuộc hàng sớm nhất, cho đến giờ, mật độ khách du lịch từ bốn phương tám hướng còn đông hơn dân bản địa, mà vẫn giữ được nguyên vẹn là mình. Ấy là nhờ những người như Nguyễn Sự, bởi chẳng có ai yêu và hiểu Hội An như nắm rõ từng đường chỉ tay trong lòng bàn tay mình đến thế.

Hai thái cực

Người ở các địa phương khác vẫn không hết ngỡ ngàng: mỗi năm Hội An đón nhận đến 1,5 triệu du khách, với dân số khoảng 90.000 người, tính trung bình mỗi người dân đón 150 du khách/năm, làm thế nào để Hội An vẫn là mình?

Nhưng chúng ta hãy nghe nhà văn Nguyên Ngọc lý giải về điều mà ông từng bần thần “Hạnh phúc khi nhắc đến Hội An!”. Ông chia sẻ: “Văn hóa Hội An rất hay. Thật ra ở Hội An gần như đa quốc gia vậy, nhưng Hội An lại có sức tiêu hóa lạ kỳ, những người từ nơi khác đến ở với Hội An rồi cũng sẽ thành người Hội An… Ở Hội An rất an toàn mà không hề có công an đứng đường, dù khách du lịch, khách Tây rất nhiều, nhưng họ vẫn thoải mái đi chơi, mua sắm”.

Nét hay ở Hội An còn nổi bật trong buôn bán. Nguyên Ngọc tâm sự: “Trước đây, có một nhà kiến trúc sư đến đây, anh ta vào một hiệu giày, rất thích kiểu giày đó nhưng lại không thích màu phối này, thế là người chủ tiệm giày giới thiệu anh ta sang cửa hàng khác có kiểu cách mà anh ấy thích”; hay như tại chợ Hội An: “Có một chị đi mua thịt, cô bán hàng hỏi rằng mua thịt này để làm gì, thì chị đấy bảo mua về làm chả giò cúng đám giỗ. Nghe xong cô bán hàng liền bảo, thịt của cô hôm nay không được ngon và chạy sang quán khác giới thiệu”.

 

Nhân dân làm chủ (ảnh minh họa)

Còn những người dân ở phố Hội đầy tự hào: Nhà ở Hội An không bao giờ cửa đóng then cài. Bây giờ có nhiều người giàu lắm nhưng dù giàu có đến cỡ nào cũng không hợm hĩnh, không thể hiện là mình giàu có. Thậm chí có việc ở Hội An người ta làm từ thiện có thể hàng mấy trăm triệu đồng nhưng người ta vẫn không nói tên ra. Nếu thấy việc cần giúp những hoàn cảnh khó khăn là họ đóng góp nhưng họ không muốn tuyên truyền tên của họ và số tiền họ đóng góp, họ chỉ cần sự đóng góp của họ đến được địa chỉ thực sự cần thiết.

Hội An xuất phát điểm là một nền văn hóa vật thể, tức là khách du lịch đến Hội An thoạt đầu là để khám phá khu phố cổ. Nhưng đến Hội An càng nhiều thì người ta lại càng thích thú không chỉ về mặt kiến trúc của phố Hội, vì chỉ cần đi vài ngày là hết khu phố cổ đó. Khách du lịch thích ở Hội An cả một cái gì đó rất lung linh, không chỉ bằng những đèn lồng mà sự  lung linh ở đây lại thấm vào lòng họ từ nếp sống của người dân Hội An, từ cách hành xử của người dân Hội An. Điều này cực kỳ quan trọng để khách du lịch đến Hội An lại có cảm giác như được trở về nhà của họ.

Một cảm giác rất yên bình và thân thiện…

Chỉ có điều, chất sống thực của Hội An thật khác hẳn với câu chuyện mà Olivier Berger – một giáo viên người Bỉ, vừa kết thúc khóa huấn luyện ngắn hạn về công tác bảo tồn di sản, mô tả rằng tại Việt Nam, cảnh sát nhan nhản ở khắp nơi, nhưng nạn cướp giật không vì thế mà giảm đi. Thậm chí, năm sau còn “phát triển” hơn năm trước.

Hay Natalia Krupxkaia, một nữ du khách Nga thường đến Hà Nội kết hợp với công việc kinh doanh cá hồi, còn ngạc nhiên một cách thành thật bởi một thành phố có bề dày “ngàn năm văn hiến”, nhưng lại “hở ra một cái là bị mất đồ ngay”. Với người đàn bà chịu học tiếng Việt này, thật khó hiểu là với tình hình an ninh như thế, hàng năm Việt Nam lại có thể đón tiếp đến trên 6 triệu khách du lịch nước ngoài – như một con số của ngành du lịch nước này công bố mà cô không mấy tin tưởng vào độ xác thực của nó.

Cho dù Hà Nội có tuyên bố thu hút đến hai triệu du khách nước ngoài hay “mức phấn đấu” gần 4 triệu lượt đối với Sài Gòn cho mỗi năm, vẫn có đến 70-80% du khách trả lời “không có ý định đặt chân đến Việt Nam lần thứ hai” – như kết quả của không ít cuộc khảo sát bỏ túi.

Tri túc cộng sản

Quá xa biệt với giới chức du lịch ở Hà Nội và Sài Gòn, Hội An và Nguyễn Sự lại tô điểm cho nhân tố con người – chiều sâu tận cùng của văn hoá, của kiến trúc.

Công luận đã không ít lần phải thừa nhận rằng có một điều lạ là dân Hội An nghèo nhưng chẳng ai phá nhà cổ làm nhà mới. Thời bao cấp mỗi nhà chỉ sống bằng vài ba khung dệt, nhưng vẫn giữ nguyên nếp nhà như một sự tri ân với cha ông của họ. Họ giữ lại những gì đẹp đẽ của quá khứ, đâu biết ngày mai sẽ thành di sản. Thời đổi mới, nhà nhà làm du lịch, có người giàu lên nhưng cũng chẳng ai đập nhà làm khách sạn. Dân phố không soi mói, nhưng biết quan tâm đến nhau. Điều gì không phải, trái với đạo lý đều khó sống được ở đây. Dù lịch sử đầy biến động, người Hội An vẫn giữ được chiều sâu cốt cách, tâm hồn mình. Nhỏ bé, thân thuộc, không vội vã, không có những con đường rộn ràng, chẳng ai chạy xe quá nhanh. Khi con người sống có trật tự thì trong tâm thức, suy nghĩ cũng chậm lại, nhập thân, nhìn lại mình nhiều hơn. Những con người ấy đã biết tự làm mới mình hàng ngày, tạo ra hồn của phố, sự thân thuộc bình yên và một chút chân quê khiến ai đã một lần tới là nhớ mãi, giống như được trở về nhà.

Dù tự nhận là quê mùa đặc sệt, nhưng cái chân quê của Nguyễn Sự lại được nhà văn Nguyên Ngọc cảm nhận: “Nếu không có Nguyễn Sự sẽ chẳng giữ được Hội An. Nguyễn Sự là tập trung tinh túy của người Hội An: trí tuệ, năng nổ nhưng thật bình dị, chân thật. Sở dĩ ông làm được nhiều điều cho phố cổ vì được dân thương. Quan chức ít ai giống anh, liêm khiết, thương dân, biết văn hóa bao giờ cũng mong manh, luôn lo lắng, suy nghĩ, gìn giữ, không chủ quan”.

Có lẽ đó cũng là thấm cảm trong lời bình luận của cánh nhà báo trong nước. Một quan chức liêm khiết, yêu thương dân và đối đãi với họ bằng chữ “nhân nghĩa” đã là của hiếm đời nay. Một quan chức thấm “đạo làm quan”, điều hành công việc bằng sự am hiểu văn hóa và lẽ đời lại càng hiếm hoi hơn nữa. Hội An đang có cả hai con người hiếm hoi ở trong một con người.

Con người đó – với bề ngoài chẳng khác mấy người đạp xích lô, nhưng bên trong lại chan chứa một trái tim ủ máu nóng đồng loại. Trái tim đó thật quá dị biệt với những xác phàm luôn trương nứt bởi máu của kẻ đói rách.

Thấy đủ là đủ – đó mới là cái tri túc hiếm có nơi một chức quan cộng sản như Nguyễn Sự.

Vào cái thời sâu mọt chen chúc hơn cả cướp cạn…

Xem tin nguồn: http://ttxva.org/cai-du-cho-mot-chuc-quan-cong-san/#ixzz2XZSuevVx
Follow us: thongtanxavanganh on Facebook

Công chức lộng ngôn hay dốt ngữ pháp?

Posted on


Theo Phunutoday

Lời chủ Blog: Bài viết dưới đây chỉ là 1 ví dụ bé tẹo trong thiên hình, vạn mớ kiểu ứng xử của “công chức, viên chức” xứ sở hình chữ S này. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, nhưng có lẽ cội nguồn của nó chính là hệ quả của 1 xã hội bát nháo, tranh cướp, vô luật và một chính quyền độc tài.

 

vanhoa-chui

 

Sau khi nói trống không 3 lần “Làm cái gì?” mà không thấy có ai trả lời, cô nhân viên trẻ măng ở cửa dịch vụ một dấu của UBND xã Mỹ Đình (Hà Nội) mới nhướng mắt hỏi một bác già: “Giấy tờ này của ai?”. Bác già nói: “Tôi chờ mãi tới giờ mới được nghe cô nói một câu đúng ngữ pháp”.

Bác tôi vừa đi ra UBND xã Mỹ Đình (huyện Từ Liêm, Hà Nội) về, sáng đó ông đến làm thủ tục để chuyển bảo hiểm y tế từ bệnh viện A. về viện B. để mỗi lần đi khám gần hơn cho tiện. Ra khỏi nhà chưa đến 1 tiếng, ông đã quay về với tâm trạng bực dọc và cáu kỉnh.

Hỏi ông có chuyện gì, ông kể lại: “Bác bực mình quá cháu ạ, lâu rồi mới đến cơ quan nhà nước, chứng kiến nhiều chuyện chướng tai gai mắt nên không chịu được. Thế này mà những người phải thường xuyên đi làm thủ tục giấy tờ liên quan đến cơ quan nhà nước hoặc phải rèn tính tình cho mình nhũn ra như con chi chi, hoặc phải có thần kinh thép mới chịu nổi”.

Và rồi ông tường thuật câu chuyện mà ông vừa phải chứng kiến sáng đó cho tôi nghe. Ở cửa dịch vụ thủ tục “ một cửa một dấu”, chỉ có một cô nhân viên trẻ măng ngồi, xung quanh là các ông già bà cả lố nhố, người trẻ hơn thì đến xin dấu má, làm thủ tục khai sinh cho trẻ con… Đông người mà chỉ có “một cửa một dấu” nên phải xếp hàng chờ đợi là đúng rồi, thế nên những người đến ủy ban sáng đó không ai bảo ai, đều phải khép nép ngồi chờ đến lượt mình.

Xếp trước ông bác tôi, có một bác già cỡ tuổi 75-80, tức là tầm tuổi ông nội ông ngoại của cô nhân viên trẻ măng kia, đến lượt giải quyết giấy tờ của ông, cô nhân viên gọi xách mé “Nguyễn Văn A.”. Ông già tiến đến gần bàn, cô nhân viên không buồn nhìn lên hỏi: “Làm cái gì?” Bác già không đáp. Cô lại tiếp tục lặp lại câu hỏi: “Làm cái gì?” thêm 2 lần nữa, bác già vẫn không đáp. Cuối cùng cô gái chuyển câu hỏi: “Giấy tờ này của ai?”. Bác già nói: “Của tôi”. Cô nhân viên sửng cồ: “Của ông mà tại sao nãy giờ tôi hỏi làm cái gì ông không trả lời?”. Bác già thủng thẳng nói: “Tôi chờ mãi tới giờ mới được nghe cô nói một câu đúng ngữ pháp”.

Cô nhân viên hình như bây giờ đã bắt đầu biết ngượng, cắm cúi làm thủ tục cho xong. Nhưng bác già vẫn chưa muốn kết thúc câu chuyện ở đó. Ông quay ra đám đông đang ngồi chờ làm thủ tục nói rất to: “Tôi bằng này tuổi rồi, nghề nghiệp giúp tôi đi nhiều nước rồi nhưng tôi chưa thấy có nước nào tồi tệ như nước mình. Từ khi có cái nước Việt Nam đến nay, hình như người ta quên mất việc phải giáo dục những điều sơ đẳng nhất công chức, viên chức. Tại sao một người không biết nói một câu cho đúng và đủ ngữ pháp mà cũng được ngồi ở vị trí tiếp dân này?

Nếu là ở nước ngoài, tôi chỉ cần báo chuyện này với ông thị trưởng, thì cô nhân viên hôm nay sẽ bị cúp một ngày lương vì không hoàn thành nhiệm vụ, thậm chí bị sa thải. Nên nhớ các nhân viên công chính là những người dân chúng tôi bỏ tiền ra thuê để ngồi ở vị trí này mà giải quyết thủ tục hành chính, không phải là cha mẹ dân mà xách nhiễu chúng tôi”.

Rất đông người ngồi chờ ở ủy ban xã hôm ấy đã lên tiếng ủng hộ bác già, họ gật gù “Ông này nói đúng thế!”, nhưng cũng có người bĩu môi: “Ông già lẩm cẩm ơi, muốn được thế thì ông đi nước ngoài mà sống nhé”.

Kết thúc bài phát biểu oai dũng, bác già chống ba toong ra về. Bác tôi chứng kiến xong câu chuyện cũng chán chường bỏ ra về theo mặc dù thủ tục của ông chưa làm xong. Bác bảo: “Bác chán quá cháu ạ! Ở ngay giữa thủ đô, giữa những con người có học thức và có tuổi tác mà còn bị khinh khi xách mé thế này, thì ở những nơi khác, dân trí thấp hơn, người dân thấp cổ bé họng hơn, tình hình còn tệ đến đâu. Thôi thà rằng phải đi khám bệnh xa một tý cũng được, chứ bác không thể ra ủy ban xã để chạm mặt cái lũ công chức người Việt mới nứt mắt ra mà đã quên tiếng Việt, không nói nổi một câu cho đúng ngữ pháp và ngữ cảnh”.

Tôi nghe xong câu chuyện của bác tôi, cũng bần thần hết cả người. Vừa thương cảm lại vừa xót xa cay đắng. Một cô nhân viên ở ủy ban nhân dân xã thôi, nhưng cũng là hình ảnh điển hình cho hàng triệu nhân viên ở các cơ quan công quyền mà người dân có thể gặp ở bất cứ đâu, xấc láo, hỗn hào, bắt ne bắt nẹt dân với khuôn mặt vênh vác, thi hành công vụ mà như người bố thí cho kẻ hành khất.

Họ là sản phẩm của cái lò đào tạo nào? Họ từ đâu mà ra? Khi nào thì họ mới ý thức được rằng mình được nhận lương từ tiền thuế của dân để phục vụ nhân dân chứ không phải là ông trời bà trời ăn trên ngồi chốc và bố thí cho dân những con dấu và chữ ký của họ?

Đám công chức ấy, lạ một nỗi là khi tiếp dân, giải quyết thủ tục cho dân thì quên sạch cách nói một câu thế nào cho có đủ chủ ngữ vị ngữ, vậy nhưng có thể lom khom ngồi vắt óc hàng giờ cho đủ những lời hay ý đẹp để nịnh hót bề trên hoặc học thuộc lòng trích dẫn những câu dài hàng sải tay từ các chỉ thị nghị quyết. Không hiểu lò đào tạo nào tạo ra được những nhân viên “đa diện” như vậy?

Tôi chợt nhớ đến trong một bản tin mới đọc gần đây, Bộ Nội vụ cho biết, trong đợt thi nâng ngạch từ chuyên viên chính lên chuyên viên cao cấp của các bộ, ngành có khoảng 30% thí sinh không đạt yêu cầu, trong đó, số lượng trượt phần nhiều rơi vào các lãnh đạo cơ quan. Chắc chắn trong đề thi nâng ngạch chuyên viên ấy không có môn ngữ pháp Tiếng Việt, chứ giá kể người ta mà đưa cái môn oái oăm ấy vào, chỉ hỏi vài câu đơn giản thôi, kiểu như: “Khi tiếp dân, công chức phải nói thế nào mới đúng ngữ pháp” thì tôi tin rằng số lượng công chức bị trượt không phải là 30% mà có khi gần hết số người đi thi ấy chứ.

Xem tin nguồn: http://ttxva.org/cong-chuc-long-ngon-hay-dot-ngu-phap/#ixzz2XWnQPbxL
Follow us: thongtanxavanganh on Facebook

Bỏ học tiến sĩ về quê làm mắm.

Posted on Updated on


Hoàn thành tấm bằng thạc sĩ ở Australia, tiếp tục nhận được học bổng tiến sĩ, nhưng Đào Thị Hằng quyết định từ bỏ để trở về quê nhà Quảng Trị cùng bà con xây dựng thương hiệu mắm ruốc Thuyền Nan…

Những ngày này, Đào Thị Hằng tất bật đi về giữa TP HCM, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị để tham dự hội thảo, làm thủ tục kiểm định chất lượng các loại mắm, thiết kế nhãn mác, quảng bá hàng hóa… Vì thế, Hằng hầu như không có nhiều thời gian để thăm nhà.

Sinh ra trong gia đình đông anh em, làm nghề chài lưới ở thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, nhà Hằng rất nghèo. Trong nhà chưa khi nào có đủ 500.000 đồng nên cô thấy tủi thân khi nghe các bạn bàn tán thi trường này, trường kia. Còn Hằng chỉ tính học xong đi làm lò gạch hoặc thợ may. Thi năm đầu tiên trượt, ở nhà làm lò gạch, nhưng sức con gái yếu, Hằng xin ba mẹ ôn thêm năm nữa.

mamthuyennan-1372135853_500x0.jpg
Hằng chuẩn bị cà làm mắm cùng mẹ. Ảnh: Báo Quảng Trị.

Năm sau Hằng đỗ thủ khoa ĐH Nông lâm (Huế) với 26 điểm và may mắn nhận được học bổng Tiếp sức đến trường và học bổng thủ khoa của Nhật nên có tiền chi phí trong năm học đầu tiên. Vào đại học, Hằng theo đuổi ước mơ du học. Với sự nỗ lực không mệt mỏi, cô đã vượt qua 1.000 hồ sơ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương để trở thành một trong 20 học sinh Việt Nam nhận học bổngNăng lực lãnh đạo trị giá 112.000 USD của Bộ Ngoại giao Australia. Theo học thạc sĩ về biến đổi khí hậu, vừa hoàn thành luận án, Hằng nhận học bổng tiến sĩ.

“Tôi luôn đặt câu hỏi mình sống trong đời để làm gì? Danh hiệu tiến sĩ quan trọng, tiền tài cũng quan trọng, nhưng được giúp đỡ nhiều người với tôi còn quan trọng hơn”, Hằng chia sẻ và cho hay một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định về nước của cô là ý kiến của ông bà Dương Quang Thiện. Ông từng du học ngành máy tính ở Pháp, làm việc cho IBM, lấy vợ Tây, nhưng quyết định trở về nước với quan niệm đất nước cần ông hơn là các nước phát triển.

Trong lần trao đổi với ông Thiện về cách thức giúp đỡ nhiều người dân Quảng Trị, Hằng đặc biệt tâm huyết với ý tưởng khôi phục lại nghề mắm truyền thống và quyết định trở về để thực hiện dự định này. Ký ức của Hằng vẫn vẹn nguyên về những năm tháng vất vả, khó nghèo: “Mùa hè khi ba làm được nhiều cá, tôm, bán không hết, mẹ tôi đưa về nhà ướp muối làm mắm đu đủ, mắm cà. Mùa đông khi trời mưa gió, món thường nhật của cả gia đình tôi là cơm nóng với mắm. Mắm mẹ làm thơm và ngon lắm, nên chị em tôi ăn hết nồi cơm, còn cạo cháy, tráng xoong bằng nước mắm. Mắm mẹ làm đã nuôi 6 chị em chúng tôi khôn lớn”.

Đầu năm 2013, ngay khi trở về Việt Nam, Hằng dành 5 tháng lặn lội khắp các làng chài từ Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phan Thiết, Bình Định, Phú Yên, Quảng Ngãi… để tìm hiểu, thu thập tư liệu và học hỏi kinh nghiệm của người dân bản địa trong việc làm mắm ruốc và nước mắm, với tất cả 20 loại. Để được người dân chia sẻ, chỉ bảo tận tình kinh nghiệm làm mắm ruốc gia truyền, cô đã về nhà dân ở lại hàng tuần liền, cùng xắn tay làm mắm với bà con.

Các bà, các chị giàu kinh nghiệm làm mắm đã tận tình chỉ bảo cho Hằng cách làm các loại mắm, cách nếm, thử mắm xem vị, mùi mắm như thế nào là đạt yêu cầu. Đi đến đâu, Hằng cũng đều tỉ mẩn ghi chép lại công thức, kinh nghiệm làm mắm của từng vùng miền, làm phong phú thêm vốn kiến thức của mình.

Đi nhiều vùng miền, Hằng được biết nhiều loại mắm đặc sản từng được tiến vua như mắm thu, mắm đối, mắm nhum…, nhưng nay rất ít người làm. Nước mắm miền Trung đậm đà, chất lượng nhưng vẫn chưa được bán rộng rãi, chủ yếu bán ở các chợ nhỏ lẻ. Thêm một điều nữa là hầu như con cháu của các dì, các mệ vốn có truyền thống làm mắm ngon lâu đời đều không muốn nối nghiệp gia đình.

“Cộng thêm áp lực từ nước mắm sản xuất công nghiệp vốn rẻ, quảng cáo hoành tráng, chai bao đẹp mắt lại hợp khẩu vị, khiến họ không mặn mà gì với nghề làm mắm ruốc truyền thống. Cứ tiếp tục như vậy thế hệ con cháu mình sẽ không biết nước mắm, mắm ruốc là gì, quan trọng hơn là mất nghề truyền thống vốn được gìn giữ và phát triển cả ngàn năm nay”, Hằng trăn trở.

Hằng cho rằng, nghề làm mắm và nước mắm duy nhất có ở Việt Nam. Thái Lan nhập nước mắm Việt Nam về pha chế rồi xuất khẩu đi khắp thế giới. Bangladesh chỉ có ruốc khá thơm ngon và thường được người dân bỏ vào giấy kẽm, nướng lên cho thơm trước khi nêm vào thức ăn. Qua đi thực tế ở các vùng làm mắm ruốc và nước mắm truyền thống ven biển các tỉnh miền Trung, kết hợp với kinh nghiệm làm nước mắm của gia đình, Hằng nhận thấy, về nước mắm, mỗi loại cá sẽ cho mỗi loại nước khác nhau về màu sắc, mùi thơm và độ ngọt.

daothihang-1372135853_500x0.jpg
Đào Thị Hằng bên sản phẩm của mình tại một hội thảo về môi trường. Ảnh:Báo Quảng Trị.

Hiện Thuyền Nan có 5 loại nước mắm, đều nguyên chất, đảm bảo thơm ngon, không hóa chất, không chất bảo quản. Hằng trực tiếp làm việc, đặt hàng với hộ gia đình làm mắm ở các vùng biển bãi ngang như Mỹ Thủy, Cửa Tùng. Điều đặc biệt hầu hết gia đình là phụ nữ đơn thân, có hoàn cảnh cảnh khó khăn.

Cô giải thích, sở dĩ chọn những hộ làm mắm lâu đời có hoàn cảnh đặc biệt tham gia dự án sản xuất là giúp họ có nguồn thu nhập đều đặn, có điều kiện cho con cái học hành. Từ khi tham gia dự án của Hằng, các sản phẩm của dì Rỏ, mệ Tùng (ở Mỹ Thủy, Hải Lăng), dì Xây, dì Lê, vợ chồng anh chị Xiêm Cát, dì Thảo, anh Tùng (ở Cửa Tùng, Vĩnh Linh) đã có mặt khắp các tỉnh thành.

Hiện tại, chưa có cơ sở sản xuất, chưa có thương hiệu được đăng ký độc quyền, Hằng phải tích cực phân phối sản phẩm thông qua kênh bán lẻ và bán hàng trên mạng. Khi hoàn thành xong việc đăng ký vệ sinh an toàn thực phẩm và công bố chất lượng, cô sẽ mở rộng phân phối, cũng như ấp ủ xây dựng một cơ sở sản xuất có quy mô, mời những người làm mắm ruốc có uy tín về làm, đồng thời mở rộng xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài.

“Tôi có một ý tưởng khá đặc biệt là sẽ tập cho người nước ngoài ăn mắm ruốc, bằng cách chế biến mắm ruốc kết tinh thành một dạng muối trộn với salad hoặc ăn với bánh sandwich kẹp thịt, làm sao để giảm mùi mắm ruốc một cách tối đa nhưng vẫn giữ nguyên vị ngon, chắc chắn người nước ngoài sẽ thích”, Hằng chia sẻ.

Hiện tại, ngoài theo đuổi dự án mắm Thuyền Nan, Hằng cùng nhóm bạn trong nhóm Mê Kông 1 thực hiện đề tài báo cáo về thực trạng phát triển đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu. 28 tuổi, Hằng đã tích lũy được rất nhiều kiến thức bổ ích trong cuộc sống và tự nhận rằng, niềm đam mê với mắm ruốc đã thay đổi cuộc đời mình.

Giải đáp thắc mắc vì sao chọn tên Thuyền Nan để gắn với thương hiệu sản phẩm mắm ruốc, Hằng bộc bạch: “Chiếc thuyền nan ở vùng biển quê mình giờ hiếm lắm, bà con đều đóng tàu lớn để ra khơi. Nhưng dù gì đi nữa, thuyền nan vẫn là hình tượng gắn liền với ngư dân Việt Nam từ bao đời nay, cũng như gắn với các sản phẩm truyền thống từ biển. Tôi cũng trưởng thành và được nuôi lớn nhờ thuyền nan đánh cá của gia đình, nhờ nó tôi đã được đến nước Australiaxa xôi để học tập và giờ quay về để được góp một phần nhỏ bé giúp bà con quê mình”.

Theo báo Quảng Trị

Những tấm bằng đại học “thiu”

Posted on Updated on


Bài của VietNamNet.

Lời chủ Blog: Có lẽ đây là 1 cái tít ấn tượng và đắt giá. Nếu cho tôi đặt, tôi sẽ thay từ “thiu” = “thối”. Ngoài những cái dở của các cử nhân tôi đã viết tại báo Giaoduc.net.vn, ( http://giaoduc.net.vn/Vi-khat-vong-Viet/Truoc-khi-uoc-mo-lon-cac-cu-nhan-tuong-lai-hay-doc-bai-viet-nay/296667.gd) tôi còn gặp nhiều trường hợp khác với muôn hình, vạn trạng về sự dở của sinh viên, cử nhân ở ta. Đến mức giờ đây, cứ có ứng viên điện thoại xin làm mà tôi hỏi đang học hay làm gì mà nói sv hay cử nhân là tôi dị ứng.

Bằng…thừa

Tốt nghiệp Trường CĐ Y tế Ninh Bình với bằng giỏi, Thảo hăm hở mang hồ sơ đi đến các bệnh viện nhưng rồi 4, 5 lần cứ mang hồ sơ đi lại mang về. Không lùi bước, Thảo xin vào làm tư nhân ở các phòng khám.

Làm việc cho phòng khám của Trung Quốc được 2 tháng, Thảo xin nghỉ. Lí do vì trở ngại vấn đề ngôn ngữ cộng thêm với việc thường xuyên phải làm đến tối lại làm cả thứ bảy, chủ nhật mà lương lại thấp.

Bằng, đại học, thi cử
Ảnh minh họa. (Ảnh: Người lao động).

Sau vài lần nộp hồ sơ nhưng vì nhiều lí do như “ma cũ bắt nạt ma mới”, lương chỉ gần 2 triệu/tháng nên Thảo quyết định về quê nối nghiệp làm hương vòng của gia đình.

Nguyễn Thị Thúy, quê ở Duy Tiên (Hà Nam) tốt nghiệp khoa Du lịch, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn vào tháng 6/2011 với tấm bằng khá và một bảng điểm “đẹp”.

Vậy mà 2 năm trôi qua, Thúy vẫn không thể kiếm cho mình một công việc ổn định. Cuối năm 2012, Thúy cùng em trai quyết định mở một quán bán hàng ăn sáng tại một ngõ nhỏ trên đường Cầu Giấy (Hà Nội) để mưu sinh.

Tương tự, Phạm Thị Lam quê ở Đông Hưng (Thái Bình) tốt nghiệp Trường ĐH Luật Hà Nội từ năm 2010 nhưng suốt 2 năm nay Lam vẫn không xin được việc.

Không chịu về quê theo lời khuyên của gia đình, Lam bám trụ lại thủ đô bằng việc mở một quán bán cà phê kiêm đồ ăn sáng trong con ngõ nhỏ trên phố Huỳnh Thúc Kháng. Nhưng việc kinh doanh không hề dễ dàng, thua lỗ, vừa rồi cô đã quyết định sang nhượng lại cửa hàng và tiếp tục tìm vận may cho mình bằng cách đi… lấy chồng.

Vũ Thị Minh quê ở Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử – GDCD, Trường ĐH Hùng Vương (Phú Thọ) năm 2010 với tấm bằng giỏi nhưng giờ ngành này ở tỉnh cô đang thừa giáo viên. Thậm chí vài năm gần đây, tỉnh cô còn có chủ trương chỉ nhận giáo viên ở một số trường có tiếng như sư phạm, ngoại ngữ quốc gia, bách khoa,…

Để không quên kiến thức và nuôi ước mơ, Minh xin dạy hợp đồng ở một trường THCS với đồng lương gần 1 triệu đồng. Công việc ở trường ít tiết, Minh lại vào TP. Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) làm nhân viên bán hàng tại một siêu thị để kiếm thêm thu nhập.

Một số bạn của Minh trong khi chờ cơ hội đi học lên cao học và đi…lấy chồng.

Những chuyện cười ra nước mắt

Đã đi làm hơn 1 năm, nhưng Nguyễn Thị Anh Tuyên, cựu SV một trường dân lập vẫn chưa nộp bằng tốt nghiệp ĐH của mình cho sếp: “Đưa bằng ra lại mắc cỡ. Mang tiếng là học 4 năm chuyên ngành Anh văn, nhưng… chỉ giao tiếp được vài câu đơn thuần, chắc thua trình độ bằng B”.

Hương, một SV cao đẳng nội vụ tốt nghiệp ra trường nhưng những kĩ năng đơn giản như thành thạo gõ 10 ngón trên máy tính hay một số công việc văn phòng, đặc biệt là kĩ năng giao tiếp kém khiến cô bạn gần như không có cửa với các ứng viên khác khi đi xin việc.

Võ Đình Dương, học ĐH tiếng Pháp, lại học thêm cả quản lý khách sạn, du lịch. Nhưng, giờ bảo một SV trong lớp đứng ra thiết kế một tour du lịch thì chịu. Cũng không ai biết được mình phải mời chào khách du lịch nước ngoài thế nào để cho có ấn tượng, tour như thế nào thì phù hợp với tâm lý của khách du lịch người Pháp…

Thái, SV Trường ĐH Giao thông vận tải tốt nghiệp năm 2010 thậm chí phải giấu bằng tốt nghiệp khi sang xin việc ở một công ty thuộc Khu công nghiệp Bắc Thăng Long. Lí do đơn giản được công ty này ghi rõ “không tuyển người có bằng đại học”. Họ cần những SV cao đẳng nghề hơn.

Giờ đây câu chuyện như kỹ sư thất nghiệp làm xe ôm, sinh viên ra trường làm tiếp thị, đi bán hàng ở quán cà phê hay quán cơm,…đã không còn xa lạ. Tấm bằng đại học không còn là tấm vé chắc chắn cho tương lai tươi đẹp chờ đón SV sau khi ra trường.

Thực trạng báo động

Theo báo cáo mới nhất của Sở GD-ĐT tỉnh Thanh Hóa, tính đến ngày 20/2/2013, toàn tỉnh Thanh Hóa có gần 25.000 HS-SV đã tốt nghiệp nhưng chưa có việc làm. Trong đó trình độ trên ĐH có 45 học viên, ĐH có 5.674 SV, CĐ có 6.845 SV, TCCN có 6.003 SV, còn lại là CĐ nghề và trung cấp nghề.

Bằng, đại học, thi cử
SV tìm kiếm công việc trong ngày hội việc làm tại Đà Nẵng (Ảnh: Thể thao&Văn hóa)

Một lãnh đạo ngành GD-ĐT tỉnh này chua xót cho biết: Trường ĐH Hồng Đức vốn có tiếng đào tạo sư phạm nay phải chuyển sang đa ngành. Vài năm nữa ngành sư phạm vẫn thừa giáo viên thì đào tạo ai học? Nhiều SV hệ cử tuyển của địa phương thậm chí vẫn trong tình cảnh thất nghiệp sau khi ra trường.

Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 1/10/2012, trong tổng số 984.000 người thất nghiệp có 55.400 người trình độ CĐ (chiếm 5,6%) và 111.100 người có trình độ ĐH trở lên (11,3%).

Như vậy, số lao động trình độ CĐ thất nghiệp so với tổng số lao động có trình độ CĐ được bổ sung chiếm hơn 40% và số lao động có trình độ ĐH trở lên thất nghiệp so với số lao động có trình độ ĐH được bổ sung chiếm hơn 50%.

Con số này, theo Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (LĐTBXH), tình trạng thất nghiệp có xu hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu ở nhóm thanh niên đô thị.

Theo TS Lê Đông Phương, Viện Khoa học&Giáo dục VN giáo dục ĐH ở nước ta phát triển quá nhanh, số lượng bùng nổ, nhưng chất lượng lại tỉ lệ nghịch với số lượng.

Bên cạnh đó việc phân bố ngành học và địa bàn đào tạo cũng bất hợp lý. Có đến quá nửa các trường đại học, cao đẳng tập trung tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM.

Nhiều chuyên gia giáo dục cũng phân tích, chỉ ra việc đào tạo quá “nóng” các ngành về kinh tế, quản trị kinh doanh lại, tài chính, ngân hàng… tăng đột biến khiến cung vượt cầu cũng là nguyên nhân khiến nhiều SV ra trường khó kiếm việc. Đi kèm với đó là công tác định hướng ở các cơ sở giáo dục còn nhiều bất cập, yếu kém.

Vấn đề liên kết nhà trường – doanh nghiệp không chặt chẽ dẫn tới đào tạo ồ ạt không theo nhu cầu thực tế của xã hội. Hơn nữa, nhiều trường chỉ tập trung vào số lượng nhưng chưa chú trọng tới chất lượng, đặc biệt ở ngành nghề đòi hỏi trình độ nhân lực cao.

Trong khi rất nhiều sinh viên ra trường vẫn thất nghiệp thì theo rà soát nhu cầu nhân lực cả nước của Bộ LĐTBXH, giai đoạn 2011-2015, mỗi năm cần phải bổ sung 1,86 triệu lao động đã qua đào tạo nghề; giai đoạn 2016-2020, bổ sung khoảng 2,18 triệu lao động.

Phong Đăng

Lương tri cựa quậy

Posted on


Tác giả: Tâm Don

Lời chủ Blog: Nhân ngày báo chí CM VN (21.6.2013), Blog HoaDaiNhan Kính gửi các nhà báo đại tài và kính mến của nền báo chí cách mạng bài viết của tác giả Tâm Don (tôi cũng cóc biết rõ là ai). Tuy lời lẽ có phần gay gắt, thái quá, nhưng ngẫm kỹ tác giả nói cũng có lý. Nỗi đớn hèn và đau khổ tận cùng của người cầm bút là không được phóng tác, với nhà báo, trước những bất công, tha hóa, sa đọa của đời sống mà không được trăn trở, không được động lòng qua ngòi bút thì đấy là nỗi cơ khổ. Tôi nghĩ, thứ nhất là vì áo cơm, trót nghiệp cầm bút rồi, giờ bỏ đi biết lấy gì đút miệng, vợ con khinh khi nên các nhà báo đành ngậm ngùi chịu nhục; Thứ 2,  có 1 số trong đó, cơ hội và đớn hèn thực sự lấy nghiệp báo như 1 cái cần câu cơm, xa rời nhân sinh và vô cảm trước nỗi đau đồng loại.

Dưới đây là bài viết:

Đối với tôi, nền báo chí Việt Nam là một nền báo chí ngờ nghệch và hèn nhát. Hàng triệu người ở đất nước này, hàng trăm triệu người trên trái đất này cảm nhận được điều này, nhưng tôi là người trong cuộc, tôi cảm nhận được điều này một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn những người ngoài cuộc. Rất nhiều chuyện cụ thể cười ra nước mắt chứng minh cho sự hèn nhát và ngờ nghệch. Quá nhiều. Kể ra chỉ thêm xát muối vào lòng tự trọng, chỉ thêm xót xa và cay đắng. Ngay bản thân đội ngũ những người làm báo Việt Nam từ lâu cũng đã nhận thức được sự hèn nhát của chính mình, sự áp đặt phi lý của nhà cầm quyền đối với nền báo chí lệ thuộc vào ngân sách bao cấp và nhân sự bao cấp. Nhiều tổng biên tập đã thú nhận với phóng viên: “Chúng ta ăn cơm của họ [Đảng và Nhà nước], uống nước của họ thì phải làm theo họ thôi. Đã làm người thì không thể chặt đứt ngón tay đã giúp mình đưa bánh mì vào miệng, hay nói theo ông cha mình, ăn cây nào phải rào cây ấy”. Lời tâm sự này đã nói lên tất cả đặc trưng của nền báo chí Việt Nam: nô dịch, đớn hèn và đau khổ.

Nhiều nhà báo có lương tri đã nhận thức được điều này. Thời nhạc sĩ Trần Hoàn đảm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (một trong những chức năng của bộ này là quản lý nền báo chí quốc doanh), báo chí bị o ép trăm bề. Những người làm báo đã chế lời mới cho ca khúc Lời người ra đi của chính Trần Hoàn để oán thán Trần Hoàn, để ai điếu cho một nền báo chí: “Nền báo chí còn Trần Hoàn thì còn gian khổ em ơi! Bút còn đây, giấy còn đây, nghị quyết này ta chép ra thôi…”. Than vãn chỉ để mà than vãn, không có một nhà báo nào đủ dũng khí để hành động phản kháng.

Không phản kháng không có nghĩa là không có nhà báo nào cựa quậy. Có rất nhiều nhà báo đã cựa quậy. Từ năm 1967, một số nhà báo ở Hà Nội đã cựa quậy, và, họ đã bị tù đày, quản thúc. Năm 1990, nhà báo Bùi Tín đã cựa quậy, và, sự đào thoát của ông đã cung cấp cho nhân loại những thông tin cay đắng về một hành tinh cô đơn. Từ thập niên 90 của thế kỷ 20, báo Tuổi trẻ đã cựa quậy, và hậu quả là Tổng biên tập Kim Hạnh mất chức, nhiều phóng viên và biên tập viên mất việc, nhiều phóng viên phải chịu cảnh tù đày do những bản án mang tính dằn mặt và bỏ túi của nhà cầm quyền. Nhà báo Huy Đức không chỉ cựa quậy với tác phẩm Bên thắng cuộc vào năm 2012 mà trước đó đã cựa quậy với Bức tường Berlin vào năm 2008. Nhà báo Trương Duy Nhất cũng đã cựa quậy bằng cách bỏ việc trong một cơ quan báo chí quốc doanh để tự do hơn, để cóMột góc nhìn khác, dù biết rằng sẽ đối diện với lao tù. Khi Internet trở nên phổ biến ở Việt Nam, làng báo Việt Nam cựa quậy và thức tỉnh nhiều hơn. Nhiều nhà báo đã viết nhiều bài báo đúng nghĩa bằng chính danh hay ẩn danh. Trong thế giới mạng ngày càng phát triển, họ đã góp phần làm nên những trang web lừng danh như Basam, Bauxite Việt Nam mà theo đánh giá của tôi là hiện tượng, là đột phá của cả một nền báo chí trong buổi giao thời đầy dông bão.

Tôi chơi thân và kính trọng nhà báo lão thành Phan Duy Thảo. Đối với tôi, ông là một người bạn, người anh và là một người thầy. Ông thông minh, trung thực, tốt bụng và gàn dở như chính các ông đồ xứ Nghệ quê ông. Có thể Phan Duy Thảo không nhận thức được rằng, chủ nghĩa cộng sản là một quái thai ghê tởm của nhân loại, nhưng Phan Duy Thảo nhận thức được rằng, ông và gia đình ông cũng như hàng triệu người khác trên đất nước này đang phải sống trong một xã hội dối trá và bất an. Vào năm 1991, khi mọi người đang hồ hởi với sự đổi mới, Phan Duy Thảo đã viết bài thơ Chuyện tếu đêm nay cãi chày với vợ nhân dịp Ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21-6. Ông đã khổ sở nhiều với bài thơ này. Chỉ thị miệng đã được ban ra: sẽ không cho in trên báo, sẽ không cho đọc trong đêm thơ của các nhà báo nếu không thay tựa của bài thơ và sửa bỏ một số câu trong bài. Phan Duy Thảo đã phải ngậm ngùi gọt giũa đứa con tinh thần của mình để được đọc trong đêm thơ, để bài thơ được in ấn, nhưng với những kẻ tâm giao, ông vẫn đọc bản gốc. Tôi mạn phép trích dẫn một phần bản gốc bài thơ của ông mà tôi nhớ được.

 

Chuyện tếu đêm nay cãi chày với vợ

Em bảo: Anh chuyên nghề làm báo

sao suốt ngày bài viết mãi chưa ra

ngồi vào bàn cau mày như sắp đẻ?

Dạ thưa em, anh đâu phải đàn bà.

Các em mang thai bao điều cực nhọc

Chín tháng mười ngày sinh những đứa con

Còn nghề anh cũng lắm phen thai nghén

Cũng đẻ cho đời những sản phẩm “đứa con”

Đứa con khôn biết dẫn dắt công việc

đứa con ngoan biết mở cửa quét nhà

cũng có đứa chỉ ngồi lê mách lẻo

và suốt ngày có đứa chỉ ba hoa

Em lại trách: Anh chỉ nghề viết lách!

– Thì em xem cũng chưa thật là nghề

Viết đã khó mà lách thì chưa nổi

Hứng lên rồi còn bia bọt cà phê

Nghề anh chọn nơi dòng đời xiết mạnh

Làm thân cò lặn lội với bờ sông.

Nói thật với em đời nay có nhiều loại báo

Báo cáo – báo tường – báo ân – báo oán

Riêng với em, anh nhận nghiệp báo cô.

22 năm trước, Phan Duy Thảo đã thức tỉnh, đã cựa quậy khi nhận thức được rằng “đời nay có nhiều loại báo: báo cáo – báo tường – báo ân – báo oán“. Thật đáng để nghiêng mình thi lễ. Lão báo đại sư yêu mến ơi, hiện đang có nhiều nhà báo trong một nền báo chí hèn nhát và ngờ nghệch cựa quậy và dấn thân lắm đấy, họ cựa quậy và dấn thân thầm lặng trong bối cảnh rất nhiều nhà báo đang gào lên như lang sói khi phải sống quá lâu giữa bầy sói lang.

T. D.

TIỀN VÀ NGƯỜI

Posted on Updated on


HoaTienSinh

Chuyện xưa:

Một câu chuyện cổ bên Tàu thời Đông Chu liệt quốc, kể trong « Sử ký » của Tư Mã Thiên (có bản dịch của Nhữ Thành, nxb Văn Học, Hà Nội):

Phạm Lãi, sau khi giúp cho vua Câu Tiễn nước Việt thành công, sợ bị hại, nên lánh sang đất Đào, người đời gọi là Đào Chu công. Đào Chu công có ba người con trai : hai người con lớn sinh ra lúc còn nghèo khó, người con út sinh ra lúc đã giàu sang. Khi người con út đã lớn, thì người con thứ hai, vì giết người, nên bị tù, đợi tội chết ở đất Sở. Đào Chu công mới sai người con út mang nghìn vàng đi chuộc tội cho anh. Nhưng người con cả khóc lóc đòi đi, viện lý lẽ rằng mình là con cả, từ trước đến nay mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều được tham gia lo liệu, nay có việc quan trọng như vậy mà không được giao nhiệm vụ ; lại đe nếu không được đi thì tự tử. Bà mẹ cũng cố xin. Đào Chu công bất đắc dĩ phải để cho đi, nhưng trao một lá thư gửi cho người bạn cũ là Trang Sinh ở đất Sở, và dặn con rằng: « Khi sang đến nơi thì đưa nghìn vàng cho ông ta, để mặc ông ta lo liệu, chớ có cậy khôn mà hỏng việc! ». Người con cả, khi đi, cũng tự đem thêm vài trăm nén vàng riêng.

Khi vào đến đất Sở, người con cả tìm đến nhà Trang Sinh đưa thư, và dâng nghìn vàng như lời cha dặn. Trang Sinh nói : « Anh nên về ngay, chớ ở lại đây, mặc tôi lo liệu ; sau này, người em có được tha, cũng chớ hỏi tại sao ». Người con cả không về, mà ngầm ở lại, đem số vàng riêng của mình biếu một người thân của vua Sở để định xin cho em.

Trang Sinh vốn là người thanh liêm, đạo đức, được vua Sở rất tôn trọng. Khi nhận được thư của Đào Chu công, muốn giúp, và không có ý nhận vàng, định sau này xong việc sẽ trả lại. Người thời ấy còn tin nhảm vào điềm lành điềm dữ. Trang Sinh vào thăm vua Sở, nói riêng rằng : « Tôi xem thiên văn, thấy có điềm dữ, có hại cho nước Sở ». Vua Sở vốn tin Trang Sinh, liền hỏi : « Bây giờ phải làm thế nào ? ». Trang Sinh bèn nói : « Chỉ có cách dùng đức, đại xá cho dân, thì có thể tránh được điềm dữ này ». Vua Sở nghe lời, sửa soạn định hôm sau sẽ ân xá tội nhân.

Người thân của vua Sở, nghe tin, nhưng không biết là tại lời nói của Trang Sinh, mới bảo người con cả của Đào Chu công là vua Sở sắp đại xá. Người con cả mới nghĩ rằng, nếu đại xá, thì em mình thế nào cũng được tha, như vậy uổng mất nghìn vàng biếu Trang Sinh vô ích, liền lại đến nhà Trang Sinh. Trang Sinh giật mình hỏi : « Sao anh chưa về ? ». Người con cả bèn nói: « Tôi ở nán lại nghe tin, nay được biết vua Sở sắp đại xá, chắc em tôi sẽ được tha, nên lại chào cụ để về ». Trang Sinh biết ý hắn muốn lấy lại vàng, liền bảo vào lấy vàng mà về.

Và vì tức giận bị coi rẻ, Trang Sinh bèn vào ra mắt vua Sở mà nói rằng : « Hôm trước, tôi có nói chuyện xem thiên văn thấy điềm dữ, nhà vua nói sẽ sửa đức để bù lại, và muốn đại xá. Nay tôi nghe đâu đâu cũng đồn rằng con Đào Chu công giết người bị tội ở đây, nhà nó đem vàng đút lót cho các quan hầu nhà vua, vì vậy nhà vua đại xá không phải vì thương dân Sở, mà chỉ vì thằng con Đào Chu công đó thôi ». Vua Sở giận, nói rằng : « Ta đây tuy kém đức thật, nhưng lẽ nào vì thằng con Đào Chu công mà phải ra ân ». Rồi làm án giết người con Đào Chu công, sau mới ra lệnh đại xá.

Rốt cuộc, người con cả Đào Chu công không cứu được em, chỉ mang được xác về. Bà mẹ thương khóc ; Đào Chu công mới nói rằng : « Thằng con cả, không phải là không yêu em nó. Nhưng nó từ nhỏ đã từng chịu khổ, biết công việc làm ăn khó nhọc, nên bỏ của thì tiếc, nay tiếc số vàng thành ra hỏng việc. Còn thằng con út, đẻ ra đã thấy giàu sang, nào có biết tiền bạc ở đâu mà ra, cho nên thường phung phí, chẳng biết tiếc rẻ của cải. Vì thế nên mới định sai nó đem vàng đi cứu anh nó… “.

Chuyện thời nay:

1.Ta có 1 chị người nhà, bị bệnh cũng hiểm nghèo, lại đột ngột (cao huyết áp dẫn đến tai biến mạch máu não), bệnh này, không thể không đi bệnh viện, mà bệnh viện ở xứ ta thì chả nói, ai cũng biết, nó quá tải và chật chội, lem nhem ra sao, nhất là tuyến cuối như siêu BV Bạch Mai Hà Nội. Nghe kể, nửa đêm, bệnh nhân vào cấp cứu, cóc có giường, cứ nằm trên cáng, mà giữa cái thời tiết oi nồng thế này của HN thử hỏi sống sao? Hôm sau, về buồng bệnh khoa Thần Kinh, khi ta vào thăm, ôi trời, cơ man là người, bệnh nhân 3 nhân 1 giường, chưa tính đến lổn nhổn người nhà, mỗi bệnh nhân kèm theo vài mống.

Các con ruột của chị cuống quýt, cậu xem có quen biết cách nào xin cho mẹ cháu nằm phòng dịch vụ chứ nằm thế này có mà chết, uh, để cậu xem, chắc phải lân la quen cỡ lãnh đạo khoa may chăng mới có thể nhờ cậy, vả lại quan trọng hơn là nhờ đến sự quan tâm điều trị. Ngay sau đó, bắc cầu quan hệ, ta lần đến chị Phó khoa, có điều ở cái xh này, phàm là đi nhờ, xin hãy chuẩn bị tí chút thủ sẵn trong cặp, ta bảo, các cháu chuẩn bị sẵn chiếc phong bì rồi đi cùng cậu, nghe đến đây, con chị cả có vẻ không hào hứng, thôi cậu ạ, cháu thấy cứ nói chuyện bác sỹ điều trị là hơn, chả biết lãnh đạo khoa có giỏi và có tác dụng hay không?

Uh, thế thì tùy cháu vậy, khi nào thấy thật cần, nói lại để cậu làm việc.

Từ ngày đó, chị ấy cứ nằm đó với sự chen chúc, chật chội và hoàn toàn trông vào chế độ điều trị chung. Chắc hẳn, bệnh tình chưa biết ra sao, nhưng riêng cái nóng và hơi người, thì người khỏe không thành ốm mới là lạ.

2. Có lần, ngồi tán chuyện với mấy tay Cảnh sát Kinh tế nước CHXHCNVN, hắn nói, qua nghề nghiệp, hắn phân ra 2 loại người: Loại thứ nhất, lấy tiền đè người, loại này dễ nặn ví, hơi ho he thấy CSKT đến là móc ví ngay, không thương tiếc; còn loại thứ 2 – lấy người đè tiền. Loại này khó xơi, lỳ lợm và tiếc của, thà hy sinh chứ nhất định không chịu chi.

Cứu Đường Lâm, thật ra khó đếch gì.

Posted on Updated on


HoaTienSinh

VietNamNet lại có bài giật tít “Bàn mãi không cứu được Đường Lâm”, bài báo viết:

Năm 2007, hai năm sau khi làng Đường Lâm được công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia, các nhà quản lý đã khởi động đề án quy hoạch làng cổ, nhưng đến nay vẫn chưa xong. Buổi tọa đàm sáng 13/6 tại HN tiếp tục lấy ý kiến cho đề án quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị làng cổ Đường Lâm có sự tham gia của đại diện Sở VH-TT-DL Hà Nội, Sở Quy hoạch – Kiến trúc, UBND TX.Sơn Tây và các nhà nghiên cứu.

Vâng, cứu thế đếch nào được Đường Lâm và các di sản vật thể khác ở trong hội thảo phòng lạnh thế này? Rất tiếc, đấy lại là phương pháp mà chính quyền và các “nhà ngâm cứu” rất hay dùng.

Cắp cặp đến hội thảo rất oai, dăm câu ba điều, nghỉ cà phê giữa giờ, loáng thoáng vài bài phát biểu nhưng ở dưới các đại biểu nhắn tin tittit hoặc ngồi ngủ gật, hết giờ hào hứng nhận phong bì và chuồn, để lại 1 Đường Lâm đang xuống cấp từng ngày và người dân dài cổ đợi chờ trong nguy hiểm. Phố cổ Hà Nội cũng như thế.

Tôi thì cho rằng, cứu Đường Lâm rất dễ.  Xin lạm bàn:

  1. “Pháp vị tình,lý vị nghĩa”, mấy ông lãnh đạo và chuyên viên cần vứt bỏ cái lối tư duy thụ động, bấu víu vào mấy câu chữ của luật, hãy rèn cho trái tim biết rung cảm. Luật do con người làm ra, nó cũng luôn đi sau thực tiễn, vì vậy, nếu cái tâm sáng, k tư túi, có việc gì không thể quyết?
  2. Dân phải có lợi, ít ra thì cũng không thiệt thòi, bó buộc. Thử hỏi dân có muốn sửa nhà cho chắc chắn lại không? Có chứ, sửa mà giữ như cũ, cũng chả ai phản đối, nhưng tiền ở đâu? Xin thưa, dân bỏ tiền, chính quyền bỏ tiền cùng làm.

Dân lấy tiền đâu?

–          Tự có

–          Vay ngân hàng, sau đó kinh doanh du lịch thu lại.

Chính quyền lấy tiền đâu?

–          Ngân sách 1 ít

–          Kêu gọi tài trợ. Không lẽ cả cái TPHN này vận động tích cực không thể có vài chục tỷ hay sao? Vấn đề là nhân danh chính quyền vận động tài trợ thì cái thằng người nào làm việc đó phải ra hồn, phải tử tế, đừng hau háu nhìn tiền như hổ đói nhìn thịt.

Xây dựng, sửa sang thế nào?

–          Chính quyền thuê kiến trúc sư tái hiện từng căn nhà theo lối cũ, lên dự toán công trình;

–          Chính quyền đề cử các cty, các tổ chức có chuyên môn xây dựng, để người dân thuê;

–          Lập 1 ban kiểm soát xây dựng, tuân thủ kiến trúc.

  1. Sau bảo tồn làm gì?

Xin thưa phải tìm cách mà kiếm tiền từ nó, đừng để đấy mà thờ, rồi nó cũng lại xuống cấp không có tiền mà bảo dưỡng.

Kiếm tiền thế nào? Xin thưa, bán vé tham quan, tổ chức dịch vụ tại chỗ (ăn, uống, nghỉ, văn nghệ, giải trí). Tại sao cái thằng Mai Châu nó làm được?

Nhưng cái gì cũng thế, phải có tổ chức, có kiểm soát, đừng để dân tự phát, kinh doanh lem nhem, chặt chém, vô văn hóa thì chả ma nào nó đến.

 

Con công an, không muốn vào công an?

Posted on


“Trong khi nhiều gia đình buôn bán, ở vùng quê lại gắng chạy chọt cho con mình vào làm công an, thì một số cán bộ, chiến sĩ công an lại tìm cho con mình một nghề khác . Chấp nhận tốn kém nuôi ăn học, lo việc làm sau này”

Vì sao vậy?

Anh ta đến nhà khuyên tôi không đi biểu tình. Lần nào cứ có lời kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc là anh ta tìm gặp tôi để khuyên không nên đi. Anh ta khuyên bằng lý luận như đúng chủ trương mà đài báo hay tuyên truyền, nhưng đến phần kết tội hay hăm dọa như đài báo thì anh ta bỏ không nói đến.

 Anh ta cứ khuyên, tôi thì cứ đi. Rồi lần sau anh ta lại khuyên, tôi lại vẫn cứ đi.

Một lần vào ngày thứ bảy, trước ngày biểu tình một hôm. Anh ta đến gặp tôi như thường lệ, khuyên không đi biểu tình. Lần này anh chở theo cậu con trai chừng 20 mươi tuổi.  Hai bố con anh vừa đi ăn giỗ họ hàng về. Giờ thì câu chuyện đi hay không đi đã thành lệ rồi, chả phải nói nhiều. Rút gọn là mai có đi không. Có đi chứ. Thôi đi làm gì. Không phải đi chứ. Thở dài. Chép miệng. Hết.

 Anh ta không tuyên truyền kiểu đài báo nữa, lần cuối anh ta tuyên truyền như vậy cách đó từ năm ngoái. Khi anh ta định nói thì tôi ngăn lại và nói một tràng y chang những gì anh ta định nói. Đại loại là phải tin tưởng vào đối sách của đảng và nhà nước, tình hình thế giới phức tạp, chúng ta chỉ trông vào thực lực mình, mà mình thực lực còn yếu, đảng và nhà nước đang cố gắng chắt chiu để mua vũ khí, tàu chiến, quan tâm chiến sĩ hải quân..thực hiện đồng bộ, đàm phán khéo léo, tránh đụng độ đối đầu bất ổn……Gì chứ khoản này tôi nói còn hay hơn báo nhà nước. Bọn nhà báo viết bài loại đó còn nháp, chứ loại văn phong ấy tôi vừa hút thuốc, uống trà cũng tuôn ra ào ào. Cái loại bài viết đóng khung từng phần, những cụm từ cũng có sẵn, điền vào nhau thành bài. Cái thay đổi là phần lên án bọn biểu tình đưa lên trên , phần ca ngợi đường lối chủ trương đưa xuống dưới. Hay đảo ngược lại hai phần. Thậm chí tôi nghĩ nếu rành tin học, tôi còn tạo ra phần mềm viết bài báo dạng đó. Chỉ cần đưa ngày tháng, tên, địa danh…vài số liệu vào. Rồi gõ lệnh ” biểu tình” là ra ba bài báo. Hoặc cao cấp hơn nữa thì phần mềm ” chống diễn biến hòa bình ” hay ” cảnh giác trước luận điệu chống phá ”.

 Hết cái để nói, tôi hỏi con anh ta học gì. Thật ngạc nhiên, con anh ta học một trường kỹ thuật. Tôi hỏi.

– Sao không cho nó vào công an.?

Anh ta lắc đầu, cười rất ý nhị.

– Thôi, vào làm gì rồi lại vất vả. Cho nó học kỹ thuật mai kia làm đâu thì làm cho lành.

Tôi nói một suất vào công an mấy trăm triệu,riêng con cái cán bộ chiến sĩ trong ngành thì được ưu tiên vào thẳng. Tự nhiên cho nó đi học ngành khác vừa phải tốn tiền học, vừa phải tốn tiền xin việc, mà anh có giàu gì đâu lại cho con theo hướng đó. Trong khi học và theo nghề như thế trước mắt là bỏ đi hàng trăm triệu. Con nhà người ta còn thi nhau chạy vào kìa.

Anh ta lại lắc đầu cười nhăn nhó.

– Chú cứ hỏi khó, ai chứ ? chú  thì biết quá là vì sao.

Chàng trai trẻ con anh ta mở to đôi mắt nhìn tôi. Cậu ta nhìn thông minh và hiền lành. Từ bộ quần áo mặc trên người, cử chỉ và thái độ cho thấy cậu ta là người rất ý thức với cuộc sống. Đặc biệt là cậu ta nhìn tôi thân thiện chứ không hề có vẻ e dè hay khoảng cách khi nghĩ tôi là đối tượng mà bố cậu phải làm việc, mặc dù cậu đã nghe câu chuyện và biết tôi là ai. Tôi hỏi việc học hành, cậu thưa dạ vâng đầy đủ. Cậu nói không thích làm cơ quan nhà nước, thích sau này làm ở công ty ngoài hơn. Tôi không hỏi lý do sao cậu lại chọn vậy, có lúc dừng câu hỏi lại ở đoạn nào lại tốt hơn là cứ truy hỏi theo dòng sự kiện.

Hai bố con nhà nọ ra về. Tôi ngồi ngẫm nghĩ, bỗng nhiên tôi thấy ra rằng số lượng cán bộ chiến sĩ công an không cho con cái mình theo nghề cũng khá nhiều. Nhất là ở những năm gần đây. Trong khi nhiều gia đình buôn bán, ở vùng quê lại gắng chạy chọt cho con mình vào làm công an, thì một số cán bộ, chiến sĩ công an lại tìm cho con mình một nghề khác . Chấp nhận tốn kém nuôi ăn học, lo việc làm sau này.

 Tôi cứ nghĩ mãi vì sao họ làm vậy. Trong khi đồng đội họ cũng vẫn đưa con vào ngành ầm ầm. Mẫu số chung là gì.? Sự khác biệt là đâu.?

 Tôi nghĩ miên man tìm câu trả lời. Hóa ra bài toán đi tìm lời giải của tôi hướng về chủ thể người bố, mẹ là một hướng đi sai. Lời giải nằm ở những đứa con của họ. Khi đứa con ngoan, có tố chất tự chủ thì không người bố mẹ nào muốn con mình đi theo nghề công an của họ. Bất đắc đĩ đứa con ỷ lại, lêu lổng họ đành cho vào ngành để yên tâm.

Bởi thế nhiều người cán bộ, thậm chí là sĩ quan cao cấp trong lực lượng công an cũng không hướng con mình vào nghề của họ. Mặc dù đó là một nghề ổn định, dễ dàng có công việc, còn dễ kiếm chác đằng khác.

Khi Bố Già thấy Mai Cơn chấp thuận vào nghề, ông đã rất buồn. Ông không buồn khi  Tonny con cả theo nghề bố hay cả đứa con thứ hai, Nhưng ông buồn vì dòng đời đưa đẩy Mai Cơn hiền lành và có tố chất để làm con người lương thiện phải nối nghề ông. Sau này nắm quyền tuyệt đối,  Mai Cơn mắng đứa cháu khi nó định vào nghề gangxto.

– Đồ ngu, giờ là thời cần kiến thức, tao không muốn mày đi con đường này.

Không cho nó làm công an. Nếu bạn lắng nghe, tìm hiểu kỹ trong xã hội quanh ta. Bạn sẽ thấy ngỡ ngàng khi phát hiện điều này xảy ra không phải là ít. Điều đó cũng lạ lùng phải không.?

Theo Blog Người buôn gió

Chúng ta muốn xây cái gì?

Posted on Updated on


Thật tình, tôi chẳng muốn viết những gì liên quan đến đề tài này, một phần vì chẳng biết có ích gì, một phần cũng vì sợ nữa, sợ cái hệ thống an ninh ngồi xổm trên pháp luật đưa tôi vào danh sách “đen” những người tình nghi chống Đảng.

Nhưng hôm nay, tôi đọc trên VietNamNet (báo lề phải của ông đấy nhé) thấy 1 bài tả về cảnh tòa án của huyện Kỳ Anh Hà Tĩnh, nên tôi cũng thấy bức xúc, không thể không bày tỏ vài ý kiến.

Trước khi bàn về điều đó, chúng ta cùng chiêm ngưỡng các hình ảnh và lời bài báo này:

Đông đảo người dân, phóng viên báo chí đã hết sức ngỡ ngàng khi tiếng băm thịt nấu ăn, tiếng trẻ con khóc réo vang lên giữa lúc HĐXX TAND huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) đang xử án…

h1 h2 h3 h4

Xem toàn bài tại:http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/125106/hinh-anh-kho-tin-giua-chon-cong-duong.html

Vâng! Kể từ ngày ông NPT lên làm TBT của Đảng CSVN, ban đầu tôi và nhiều người dân cũng chú ý nghe những bài ông phát biểu, nhưng càng về sau, cứ nhìn thấy ông xuất hiện trên màn hình hay báo chí là tôi chẳng để ý nữa, lý do đơn giản là tôi biết rõ ông sẽ nói cái gì? Nói như thế nào?

Tôi cứ tính đại thể thế này, Đảng CSVN đến nay đã có tuổi thọ 83 năm, thiết nghĩ cũng bằng 1 triều đại phong kiến khi xưa, thời gian ấy đủ dài để định hình và phát triển 1 đất nước, 1 dân tộc. Thế nhưng điểm lại, dưới nhãn quan của tôi, thời kỳ 1: Đảng lãnh đạo những cuộc chiến, quả thật, Đảng có làm nên những thành tích to lớn dẫn đến đất nước thu về 1 mối, dân tộc độc lập (chưa bàn đến chuyện, nếu không có điều đó, liệu có tốt hơn không?); thời kỳ 2: Sau 1975, Đảng lãnh đạo xây dựng đất nước trong thời bình đến nay đã 38 năm rồi.

Thế nhưng, nhìn vào thành tựu có được của 83 năm đó thì sao? Ở đây, tôi không suy luận gì, cho nên thiết nghĩ chả phải tranh luận gì, cứ nhìn rõ mồn một hình ảnh của một cơ quan tòa án của Nhà nước (thật ra cũng là của Đảng do ông đứng đầu) nó như thế, nó vẫn thường oang oang nhân danh nước CHXHCN Việt Nam khi tuyên án, liệu có ai có thể tin con người trong đó là một công chức uy nghiêm, tử tế? khi cái nơi họ làm việc đầy quần đùi và đồ lót phụ nữ, liệu còn ai có thể tin sự chính trực, công minh của nó? Cái hình hài của CNXH mà  chúng ta đang hùng hồn thuyết giảng nó là như thế hay sao? Toàn bộ thời gian gần 1 thế kỷ với bao xương máu, mồ hôi, nước mắt của đồng bào để đến giờ cái bộ mặt xã hội VN nó như vậy ư? Đấy là tôi chưa có thời gian để điểm biết bao tin đau lòng khác về ATVSTP, về an toàn sinh mạng và tài sản nhân dân khi môi trường bị xâm hại nặng nề, khi các công trình rút ruột như trái bom nổ bất cứ lúc nào; về sự mất ATGT đến mức báo Dân trí gọi đó là cuộc chiến về ATGT; về sự tham nhũng tiền công, tham nhũng tài nguyên, vay nợ tràn lan của hệ thống công quyền làm kiệt quệ nền kinh tế. Nhiều, nhiều lắm kể không thể xiết.

Cho dù lạc quan cách mấy, tôi cũng phải đặt ra sự băn khoăn, nghi ngờ thậm chí mất hẳn niềm tin về chủ thuyết, về mô hình xã hội hiện thời.

Thật ra chúng taddang xây dựng cái gì? Xây như thế nào? Và muốn nó ra sao?

Cứ mãi ca bài ca kiên trì đường lối XHCN và đặt hình thái KTXH là “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, thật ra nó là cái gì? Kinh tế thị trường, chắc hẳn ai cũng hiểu, nó có thuộc tính  là “cạnh tranh tự do”, là máu lửa, là lợi nhuận, là làm giàu, càng giàu càng tốt, là phi tình cảm, nhưng cái bản chất và là cái ưu điểm nổi bật của nó là làm bung hết cỡ năng lực về con người và tư liệu sản xuất, thế thì chức năng quản lý nhà nước là ở chỗ xây dựng một hệ thống pháp luật cực kỳ chặt chẽ, minh bạch và khoa học, bộ máy duy trì pháp luật phải thật sự tinh hoa, tận tâm và nhất là phải công minh, liêm chính. Muốn được thế, lại xoay về tam quyền, trong đó tòa án phải độc lập.

Hình thái kinh tế – xã hội VN hiện nay, thực chất là 1 hình hài dị biệt. Khả năng biến thành người dường như là không thể?

Riêng tôi, không thể tin được.

HN, 13/6/2013

HoaTienSinh

Quốc hội VN: Lấy phiếu tín nhiệm chẳng giống ai.

Posted on Updated on


Sự kiện QH VN lần này lấy phiếu tín nhiệm 47 chức danh do QH bầu được chính các vị lãnh đạo tung hô, báo chí lề phải cũng tung hô, xem đó như 1 luồng gió dân chủ đang thổi vào hoạt động của cơ quan gọi là quyền to nhất nước này (nhưng ở ta có lẽ là quyền rơm). Người dân không biết có hí hửng, có thể có, vì dân ta hay có lối tư duy sờ mỗi cái đuôi tưởng là biết cả con Voi. Tuy nhiên mổ xẻ vấn đề này dưới nhãn quan khoa học, dường như nó ngược lại 180 độ. Dưới đây, Blog HoaTienSinh xin giới thiệu cách nhìn của GS Nguyễn Văn Tuấn về sự kiện này:

Xin nói cho rõ, “phi chính thống” ở đây là unorthodoxy, là cách làm chẳng theo một qui tắc khoa học nào cả. Tôi đang nói về cái thang điểm lấy ý kiến tín nhiệm của Quốc hội Việt Nam. Theo thang điểm này, mỗi đại biểu có thể đánh giá thành viên Chính phủ bằng cách chọn một trong 3 điểm như sau:

• Tín nhiệm cao
• Tín nhiệm
• Tín nhiệm thấp

Những ai am hiểu khoa học xã hội nhận ra ngay rằng đây là thang điểm Likert. Xin nhắc lại (vì có người hiểu lầm rằng Likert là lấy từ chữ Like!) rằng người phát kiến ra thang điểm này tên là Rensis Likert, một nhà tâm lí xã hội học. Likert đề xuất thang điểm này vào năm 1932 và sau đó hoàn thiện vào năm 1934. Thang điểm này dùng để đánh giá thái độ, hành vi, sở thích, v.v. của con người. Đây là những biến khó định lượng, nên phát kiến của Likert rất quan trọng, dù nó rất ư đơn giản.

Nhưng thang điểm Likert là thang điểm hai chiều – bipolar scale. Nói cách khác, thang điểm này phản ảnh tất cả những thái độ đi từ tiêu cực đến tích cực. Chẳng hạn như trong trường hợp lấy ý kiến tín nhiệm, thì thang điểm Likert có thể là 4 điểm như:

• Rất tín nhiệm (very trustworthy)
• Tín nhiệm (trustworthy)
• Không tín nhiệm (untrustworthy)
• Rất không tín nhiệm (very untrustworthy)

Còn đằng này, Quốc hội chỉ dùng thang điểm chẳng giống ai, vì chỉ có 1 chiều! Ngay cả cách soạn câu trả lời (“Tín nhiệm cao”, “Tín nhiệm”, “Tín nhiệm thấp”) đã là bất bình thường. Cái điểm “Tín nhiệm” có nghĩa là gì? Tại sao không cho đại biểu bày tỏ sự “Không tín nhiệm”? Đúng là những kiểu lấy ý kiến như thế này chẳng có ý nghĩa gì và rất khó diễn giải kết quả. Chẳng có ý nghĩa là vì nó không phản ảnh được tâm tình và thái độ của đại biểu. Kết quả khó diễn giải là vì thang điểm chỉ có 1 chiều.

Vậy thì kết quả lấy phiếu tín nhiệm nên được hiểu như thế nào? Tôi nghĩ vì vấn đề phương pháp, nên chúng ta chỉ có thể mô tả mà thôi. Qua mô tả, chúng ta có thể so sánh giữa các thành viên trong Chính phủ. Để so sánh, chúng ta cần phải tổng hợp 3 giá trị “Tín nhiệm cao”, “Tín nhiệm”, và “Tín nhiệm thấp” thành một điểm tổng hợp (điểm quân bình). Nhưng vấn đề là làm sao tính điểm trung bình cho từng cá nhân?

Báo chí có vẻ lấy số phần trăm “Tín nhiệm cao” để so sánh, nhưng cách làm này không công bằng. Để minh hoạ, chúng ta có thể xem hai trường hợp sau đây: Ông Nguyễn Tấn Dũng, có tỉ lệ “Tín nhiệm cao” là 43%, và ông Nguyễn Văn Hiện cũng có tỉ lệ “Tín nhiệm cao” 43%. Chúng ta có thể xem hai vị này cùng thứ hạng? Câu trả lời là không. Lí do là vì ông Dũng có 25% phiếu “Tín nhiệm”, thấp hơn ông Hiện với 52% phiếu “Tín nhiệm”. Do đó, để đánh giá và xếp hạng công bằng, cần phải định lượng thang điểm.

Tôi nghĩ có cách định lượng thực tế hơn. Ở đây, mấy người trong Quốc hội chỉ cho các điểm “tích cực” (tín nhiệm), nhưng chúng ta có thể hiểu rằng những người đánh giá điểm “Tín nhiệm thấp” có nghĩa là “Không tín nhiệm” và “Rất không tín nhiệm”. Những người cho điểm “Tín nhiệm” có thể phản ảnh cả đánh giá “Không tín nhiệm”. Giả định đằng sau của thang điểm Likert là có một biến số liên tục. Trong trường hợp chúng ta đang bàn, từ “Rất không tín nhiệm” đến “Rất tín nhiệm” là một dãy số liên tục từ -1 đến +1 (trung bình là 0).

• Rất tín nhiệm cao: trọng số từ 0.5 đến 1 (trung bình là 0.75).
• Tín nhiệm: trọng số từ 0 đến 0.5 (trung bình 0.25)
• Tín nhiệm thấp: trọng số 0 đến -1 (trung bình -0.50)

Do đó, trong trường hợp ông Nguyễn Tấn Dũng, với 210 phiếu “Tín nhiệm cao”, 122 phiếu “Tín nhiệm”, và 160 “Tín nhiệm thấp”, chúng ta có thể tính điểm quân bình là:

(210*0.75 + 122*0.25 – 160*0.50) / 492 = 0.22

và ông Hiện:

(210*0.75 + 253*0.25 – 28*0.50) / 491 = 0.42

Nói cách khác, điểm của ông Dũng trên trung bình chỉ 0.22, và “điểm thật” của ông Hiện cao gần gấp 2 lần điểm ông Dũng. Tính tương tự, và xếp hạng, tôi có bảng số liệu sau đây. Theo bảng này thì bà Kim Ngân có điểm cao nhất (0.61), kế đến là bà Trương Thị Mai, ông Phùng Quang Thanh, ông Uông Chu Lưu, Nguyễn Sinh Hùng, và Trương Tấn Sang. Năm người có điểm thấp nhất là ông Nguyễn Văn Bình (0.02), ông Phạm Vũ Luận (0.07), bà Nguyễn Thị Kim Tiến (0.13), ông Hoàng Tuấn Anh (0.16), và bà Phạm Hải Chuyền (0.19).

Nhưng tất cả chỉ là vui thôi, chứ số liệu thu thập theo kiểu phi chính thống, bất chấp qui tắc khoa học, và 1 chiều thì rất khó diễn giải. Dù sao đi nữa, những số liệu này cũng nói lên một điều là các thành viên trong Chính phủ có độ tín nhiệm thấp. Người cao nhất cũng chỉ 0.61, tức chỉ hơn trung bình 0.11 điểm!

0.61 Bà Nguyễn Thị Kim Ngân
0.58 Bà Trương Thị Mai
0.57 Ông Phùng Quang Thanh
0.56 Ông Uông Chu Lưu
0.55 Ông Nguyễn Sinh Hùng
0.54 Ông Trương Tấn Sang
0.54 Bà Tòng Thị Phóng
0.53 Ông Phùng Quốc Hiển
0.52 Ông Nguyễn Hạnh Phúc
0.52 Ông Phan Trung Lý
0.52 Bà Nguyễn Thị Nương
0.51 Ông Nguyễn Kim Khoa
0.50 Ông Nguyễn Văn Giàu
0.50 Bà Nguyễn Thị Doan
0.50 Ông Trần Đại Quang
0.49 Ông Trần Văn Hằng
0.47 Ông Ksor Phước
0.47 Ông Đào Trọng Thi
0.46 Ông Phạm Bình Minh
0.45 Ông Huỳnh Ngọc Sơn
0.45 Ông Phan Xuân Dũng
0.45 Ông Nguyễn Xuân Phúc
0.43 Ông Vũ Đức Đam
0.42 Ông Nguyễn Văn Hiện
0.42 Ông Bùi Quang Vinh
0.42 Ông Nguyễn Hòa Bình
0.40 Ông Trương Hòa Bình
0.37 Ông Nguyễn Bắc Son
0.37 Ông Hoàng Trung Hải
0.37 Ông Hà Hùng Cường
0.35 Ông Nguyễn Thiện Nhân
0.35 Ông Cao Đức Phát
0.33 Ông Vũ Văn Ninh
0.32 Ông Nguyễn Minh Quang
0.31 Ông Giàng Seo Phử
0.31 Ông Nguyễn Quân
0.29 Ông Đinh La Thăng
0.28 Ông Huỳnh Phong Tranh
0.24 Ông Nguyễn Thái Bình
0.23 Ông Vũ Huy Hoàng
0.23 Ông Trịnh Đình Dũng
0.22 Ông Nguyễn Tấn Dũng
0.19 Bà Phạm Thị Hải Chuyền
0.16 Ông Hoàng Tuấn Anh
0.13 Bà Nguyễn Thị Kim Tiến
0.07 Ông Phạm Vũ Luận
0.02 Ông Nguyễn Văn BìnhA

MUỐN SỐNG ĐẠO ĐỨC DÂN TỘC VIỆT CẦN HIỂU CÔNG LÝ HAY GIÁ TRỊ TINH THẦN

Posted on Updated on


sẽ thế nào nhỉ?
Không có đạo đức chắc chắn không có dân tộc nào phát triển và tiến bộ được. Theo các tư tưởng mới nhất của Liên Hiệp Quốc thì: không có quốc gia nào phát triển hùng cường được nếu xa rời giá trị văn hóa căn bản. Trong giá trị văn hóa căn bản đó: đạo đức luôn luôn đóng vai trò trung tâm. Chỉ một việc như thương mại thôi, nếu kinh doanh hay sản xuất không lấy chữ TÍN làm đầu, thì không thể tồn tại và phát triển lâu dài được. Còn dối trá, lừa đảo, bất tín thì chỉ là cách người ta ăn lãi chụp giật tức thời, không cách gì đi xa được.

Từ xa xưa, các triết gia chắc chắn xác tín rằng: Sống tốt nghĩa là hạnh phúc. Trái lại không thể sống gian dối, giả trá, bạo lực mà hạnh phúc được. Như người Việt bảo “Có đức mặc sức mà ăn” hay “ở hiền gặp lành”. Trong nhà mà “cha nói oan, quan nói hiếp, chồng có nghiệp nói thừa” thì không cách gì hạnh phúc.

Mới đây, giáo sư Hoàng Tụy nói, người Việt đạo đức căn bản còn thiếu nói chi đến vô cảm.

Đạo đức quả thực là một vấn đề đang mắc nghẽn to như dãy núi trong đời sống của người Việt. Hôm nay tôi muốn bàn đến cái gốc cũng như đỉnh cao tuyệt đỉnh của vấn đề này.

Muốn có đạo đức thì con người phải biết sống công lý. Muốn có công lý thì mọi người phải cùng nhìn tới giá trị phổ quát thường xuyên liên tục và mãi mãi. Sống trong giá trị phổ quát là đặc tính yếu ớt của người Việt cũng như Trung Quốc, những dân tộc sống trên lúa nước lội bì bõm, tỉ lệ tôn giáo ở hai nước này đều rất thấp. Ngay trước mắt, khi muốn giải quyết vấn đề Biển Đông, Trung Quốc chỉ thích hình thức song phương giải quyết tay đôi 2 nước một, chẳng khác gì những cặp đôi kéo nhau vào bóng tối bụi rậm để “xấu xa đậy lại”, cãi cọ, đánh đập, sờ lần, thỏa hiệp lẫn nhau. Chính thế mà nhiều chuyên gia gọi Trung Quốc là “kẻ bắt nạt xấu tính”. Có một phương ngôn mà ai có học đều biết “công lý là kẻ thứ ba”, vậy mà Trung Quốc với tầm vóc quốc gia nước lớn lại ngoảnh mặt coi như không biết điều này, vậy họ có khác gì kẻ đại ca đường phố?!

Trong các truyện Trung Quốc đầy rẫy các cảnh nhận kết nghĩa anh em, bè đảng, rất dễ dãi, dễ đến mức vừa gặp một cái là đòi kết nghĩa anh em luôn, nào: “không sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, nhưng nguyện chết cùng ngày cùng tháng cùng năm”. Một con chó còn tỉnh táo hơn, khi chúng ta mới gặp muốn nhổ nước bọt hay ném thức ăn cho nó để làm quen, nó còn cảnh giác quay đi. Tại sao lại phải nhận kết nghĩa? Vì không có công lý, nên người ta tìm cách kết cấu bằng cơ bắp để bảo vệ cũng như tìm cách ăn hiếp người khác.

Người Việt cũng vậy, người ta sống tùy tiện, manh mún xé lẻ, cục bộ, kiểu “chuông làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”, thần thánh còn xé lẻ như vậy, nên người ta khó chấp nhận một giá trị chung, như thế cũng rất khó đạt đến công lý.

Cái gì làm cho con người có một cái nhìn chung? Tiếng Pháp có câu: mọi cái lên cao thì đều hội tụ. Khi có một nhà thờ cao lên mọi người sẽ đều thấy nó. Khi có một cách sống lý tưởng hình thành, mọi người sẽ dễ sẻ chia. Trái lại, dục vọng giống như màn the tủa về mọi ngóc ngách, càng dục vọng thì càng riêng rẽ, xé lẻ, càng muốn hơn người kiểu ăn trên ngồi trốc. Hoàng Đế Napoleon nói “Một dân tộc không có tôn giáo thì chỉ có thể cai trị bằng súng đạn”. Câu này nghĩa là: dân tộc không tôn giáo nghĩa là họ chẳng có chung một giá trị siêu việt nào, nên chỉ có thể cai trị bằng sự đe dọa về cơ bắp.

Các dân tộc phát triển nhất thế giới thì đều có tôn giáo lớn tương xứng với họ. Ấn Độ có Phật giáo, nước Nga có Chính thống giáo, nước Anh có Thanh giáo, nước Ý có Thiên Chúa giáo, nước Đức có Tin Lành giáo, nước Mỹ có cả Thiên Chúa giáo lẫn Tin Lành giáo… Có một chân lý chắc chắn rằng: Văn Minh Âu – Mỹ được xây dựng trên nền tảng Ki-tô giáo.

Khi có tôn giáo, người ta ngước nhìn lên, gặp nhau ở đó và hình thành công lý. Ngay một nước bên cạnh ta như Indonexia chẳng hạn, mỗi hội nghị họ đều nói ba thứ tiếng: Indo, Mã Lai, Anh ngữ. Đối với họ giá trị phổ quát là điều hiển nhiên, không có gì phải bàn cả. Các nước văn minh việc đó càng tất yếu.

Trong khi đó với người Việt, giá trị phổ quát hay công lý luôn được đưa về làng “phép vua thua lệ làng”, là một cái gì đó luôn phải khởi động lại từ đầu một cách rất khó nhọc. Tại sao? Vì người ta hầu hết không tôn giáo, cũng là vô thần, cũng là vô đạo. Khi người Việt sang lao động ở I-rắc, Đại sứ quán của Việt Nam phải nhắc nhở: nếu được hỏi theo tôn giáo nào, bạn chớ có nói “không tôn giáo” mà bị họ tẩy chay xa lánh như “đồ vô đạo”.

Các chuyên gia nói: mọi việc ở đời sẽ không thể vận hành nếu không có lý thuyết kết hợp với thực hành. Một chiếc ô tô lăn bánh được là bởi nó đang vận hành bằng lý thuyết “đốt trong” cùng với tay lái. Đạo đức của con người cũng không thể vận hành khi không có lý thuyết về đạo đức. Lý thuyết đó chính là kinh sách và hành lễ tôn giáo.

Nói thẳng ra vấn nạn đạo đức xuống cấp, không gốc, không ngọn đại trà của người Việt hiện nay chính là “vô đạo”, “vô thần”. Đây không phải một kết luận xuông, mà là kết luận dựa trên thực tế của cả thế giới và Việt Nam. Văn chương Việt Nam chẳng hạn, tại sao nó cứ cựa quậy mãi trong cái vũng bé và vừa? Vì văn học là nhân học. Kinh nghiệm của nhà văn Việt có là bao? Trải nghiệm đức tin, tức tôn giáo không có – vì vô thần! Trải nghiệm thần học – càng không, vì tôn giáo mới sinh thần học! Trải nghiệm triết học ư? Trải nghiệm hiến pháp ư, không quan tâm đến bình đẳng tự do thì hiến pháp bao giờ xuất hiện? Rút cục nhà văn chỉ có mấy chữ học phổ thông, lên thêm tí đại học, ít tiếng Anh làm dáng, thì viết cái gì ngoài thấy gì kể nấy ở đời?

Một lần, khi tôi nói về tôn giáo, có anh tự ái nổi xung lên khi bị nói “các anh không theo tôn giáo nên khó mà hiểu về tôn giáo”. Anh ta tự ái vì cho rằng đã đọc vài cuốn sách về tôn giáo nên hiểu thấu đáo lắm. Khi chúng ta ăn cơm, cơm để ăn no mỗi ngày chứ không phải ăn vài lần để biết. Tôn giáo là để “sống đạo” chứ không phải để “hiểu đạo”. Có một phương ngôn căn bản là “Đạo đức là thói quen của điều thiện”. Điều thiện phải được lặp lại liên hồi thành thói quen mới là đạo đức, chứ đâu chỉ cần hiểu. Điệu van-xơ, “bùm –chát-chát” chúng ta chỉ cần thuộc trong 5 giây, nhưng để nhảy giỏi vài năm còn thiếu.

Khi tôi bàn về tôn giáo không có nghĩa là bàn về duy tâm hay duy vật, mà bàn về nó như cơ sở lý thuyết cho đạo đức cao nhất. Triết gia Platon cho rằng Đạo Đức là cái cao nhất của con người. Và cái gì là lý thuyết cao nhất của đạo đức ngoài tôn giáo đây? Đồng đô la của Mỹ có ghi “Chúng ta tin cậy nơi Chúa Trời” (In God we Trust). Khi Tổng thống Bush và phu nhân sang thăm Việt Nam, cả hai đã đến dự lễ ở nhà thờ Cửa Bắc Hà Nội. Chẳng phải đức tin của ông cũng như cả nước Mỹ đã làm nên giá trị của họ cũng như nước Mỹ sao?!

Nguyễn Hoàng Đức 11/06/2013

Cái khốc hại của độc đảng

Posted on


ba Cừu

Khi tôi gửi những bài viết đầu tiên cho Ban biên tập Cùng Viết Hiến Pháp, tôi có nhắn gửi rằng, tôi hiểu việc ký tên vào bản Dự thảo Hiến pháp của nhóm 72 trí thức, cũng như việc tham gia trang Cùng Viết Hiến pháp, không đơn thuần chỉ là để có một bản Hiến pháp tốt, mà cái quan trọng hơn là để thức tỉnh người dân về quyền và trách nhiệm công dân của mình.

Khi bài viết “Vài lời…” của tôi được lan truyền, nhiều người đã nhắn gửi tôi rằng, họ khâm phục, họ kính trọng việc làm của tôi, rằng họ hèn…

Chuyện người dân không ý thức hết về quyền công dân của mình, hay chuyện những người bạn tôi nhận họ hèn mới nhìn qua thì không có gì nghiêm trọng. Nếu có ai đó coi là chuyện thường tình, nhỏ…

View original post 721 từ nữa

Về những xác chết biết đi

Posted on


Tác giả: Nguyễn Đắc Kiên
Tôi không thấy mức án VKS đưa ra là nhẹ, dù ông Quý đã vừa khóc vừa nói, mong tòa giữ nguyên mức án VKS đã đề nghị áp dụng cho anh trai – ông Vươn, 5-6 năm tù. Nhưng tôi cũng sẽ không nhìn vào mắt các vị quan tòa để tìm kiếm tia hy vọng mong manh cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn, được xử trắng án.

Những người chịu trách nhiệm phán xử trong vụ án Nọc Nạn năm xưa là những con người tự do. Ngoài mệnh lệnh chính trị của chính quyền thực dân, họ còn phải chịu sự phán xét của tòa án, một tòa án cấp cao hơn, cấp tối cao trong mỗi con người, đó là tòa án lương tâm. Đây chính là khác biệt căn bản của họ với những người đang chịu trách nhiệm phán xử vụ án Tiên Lãng, những nô lệ khoác bộ áo quan tòa.

Khi người ta không được tự do trong hành xử của mình thì họ cũng thấy mình không phải chịu trách nhiệm với những phán quyết mà họ đưa ra. Tất nhiên khi đó họ cũng không phải đối mặt với tòa án lương tâm của chính họ. Giả sử nếu có lúc nào đó họ phải đối mặt thì họ cũng tìm ngay ra một kẻ để đổ lỗi, đó là cấp trên, là lãnh đạo, là hệ thống… Rồi họ tự kết luận, họ vô tội. Họ cũng chỉ là nạn nhân.

Điều tồi tệ hơn, trong xã hội Việt Nam ngày nay, những ông quan tòa của chúng ta không phải là những kẻ hiếm hoi, lạc loài, trái lại, họ dễ dàng tìm thấy những kẻ đồng lõa với mình ở khắp mọi nơi. Đó là ông bác sỹ, anh công an, chú nhà báo, ông bạn kỹ sư, cô hàng nước gần nhà, anh xe ôm đầu ngõ… họ tìm thấy một tình trạng nô lệ, một sự sự vô trách nhiệm, vô trách nhiệm như một lẽ tất yếu, nô lệ như một lẽ tất yếu, được phổ biến khắp nơi, len lỏi đến từng ngõ ngách của cuộc sống.

Trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt, nghệ sỹ Kim Chi nhận định rằng: “Nếu người ta thả bổng cho Đoàn Văn Vươn, cho gia đình anh ta, thì điều đó sẽ thu phục được lòng dân. Còn nếu mà lấy quyền, lấy luật rừng để mà trừng trị một người lương thiện như thế, thì nhất định là tức nước thì phải vỡ bờ thôi”.

Tôi có thể phần nào đồng ý với nghệ sỹ Kim Chi ở vế thứ nhất, còn ở vế thứ hai thì chắc chắn không. Dù kết quả vụ án Đoàn Văn Vươn thế nào thì cũng không dễ gì có chuyện “tức nước vỡ bờ” trong hoàn cảnh hiện nay. Đa số người dân chỉ “tức nước vỡ bờ” khi những quyền lợi thiết thân của họ bị xâm phạm, như đầm tôm với gia đình ông Vươn, còn ngược lại, sự cảm thông với hoàn cảnh bất hạnh, hay bất bình vì oan trái cùng lắm chỉ gây nên xót xa – căm hận ở trong lòng mà thôi. Một số ít sẽ tỏ thái độ, còn đa phần sẽ làm ngơ. Và cũng như các vị quan tòa trong vụ án Đoàn Văn Vươn, những người làm ngơ sẽ có đủ lý lẽ để biện hộ cho mình.

Đó chính là điều tồi tệ nhất mà một hệ thống toàn trị có thể tạo ra. Những lầm lỗi, thậm chí là tội ác về kinh tế dễ gây bất bình, phẫn nộ cho công luận, nhưng suy cho cùng nó lại là những tội lỗi để lại ít hậu quả và dễ khắc phục. Còn những tội ác làm phá hủy tận căn để lương tri con người thì khó nhận biết hơn, gây phẫn nộ ít hơn, lại khó cứu vãn và để lại hậu quả ghê gớm hơn gấp nhiều lần. Tình trạng nô lệ, sự vô trách nhiệm được gieo rắc phổ biến nơi con người trong các chế độ toàn trị là một trong những tội ác như thế. Nó như một thứ thuốc độc ma mãnh, từng lúc từng lúc len lỏi vào tận xương cốt mỗi con người phá hủy tận gốc dễ, căn để, bòn rút toàn bộ sức mạnh sáng tạo, động lực phát triển của xã hội.

Không có chuyện “tức nước vỡ bờ”, nhưng nếu vụ án Đoàn Văn Vươn kết thúc bằng một bản án khắc nghiệt, một sự hủy hoại trong mỗi con người, niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội chắc chắn sẽ gia tăng. Khi niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội bị xói mòn, con người sẽ bị đẩy sâu hơn vào các lợi ích thiết thân. Họ sẽ tìm mọi cách để tự bảo vệ mình, gia đình mình, lợi ích riêng tư của mình và không ngần ngại nếu có thể, xâm phạm vào lợi ích người khác, lợi ích xã hội. Đồng thời cũng chính những con người này, họ cũng sẽ sẵn sàng kháng cự lại bằng “luật rừng” nếu có thể với mọi sự xâm hại đến lợi ích bản thân và gia đình họ.

Những người có trách nhiệm với đất nước cần nghĩ đến những hệ quả sâu xa này. Étienne Vacherot, triết gia, chính trị gia Pháp thế kỷ 19 đã viết: “Chế độ chuyên quyền là trường học tồi tệ nhất cho nền dân chủ”. Tôi đồng ý với nhận định này. Người ta hay lấy những cuộc biểu tình, những bất ổn chính trị ở Thái Lan để chỉ trích chế độ dân chủ. Nhưng tôi thì lại thấy rằng đó là những sự “tập dượt dân chủ” không tránh khỏi và tin rằng không lâu nữa, người Thái sẽ có một chế độ dân chủ đủ trưởng thành để đưa đất nước họ vào một quỹ đạo phát triển bền vững. Sau khi viết những lời trên trong cuốn La Démocratie, năm 1859, tức là 70 năm sau cách mạng Pháp 1789, Étienne Vacherot đã bị bắt vào tù, với mức án 1 năm (sau được giảm xuống còn 3 tháng). Rõ ràng người Pháp đã chẳng được cho không nền dân chủ tự do của họ có bây giờ.

Thật nực cười khi muốn đất nước có dân chủ tự do mà lúc nào cũng canh cánh một nỗi lo gọi là “mất ổn định”. Với cá nhân mỗi con người, tôi không thấy những người lúc nào cũng chỉ chăm chăm một cuộc sống bình yên có thể làm được điều gì đó có ý nghĩa trong cuộc đời của họ.

Xin hãy nghe lại lời Patrick Henry, lãnh tụ Cách mạng Mỹ, phát biểu ngày 23/3/1775: “Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn chúa tối cao, hãy đừng bao giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào. Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”

Thế là quốc hội họp xong

Posted on


Tác giả: Thanh Sơn

Thế là Quốc hội họp xong!
Bao nhiêu kỳ vọng đi tong mất rồi!
Tiền thuế: Xuôi ngược, ngược xuôi
Theo chân Đại biểu về nơi Dân bầu…

Thế là đàn gảy tai trâu
Sửa đổi Hiến pháp: Còn lâu… hãy chờ!
Luật biểu tình: Vẫn lửng lơ
Tam quyền phân lập: Đừng mơ ban ngày!
Nhân quyền: Vuột khỏi tầm tay.
Lấy phiếu tín nhiệm đợt này: Cực cao!
Những Ông sâu nảo sâu nào
Dân mong lật nhảo lật nhào… trụ êm!

Luật đất đai: Vẫn y nguyên
Dân ngao ngán ngửa mặt rên ời ời…
Lại khiếu kiện khắp nơi nơi
Thấp cổ bé họng kêu trời… còn lâu!

Điều 4: Chễm chệ trên đầu
Thuyền Mac Lê, biết về đâu bây giờ?
Thiên Đường Đã Chọn Trong Mơ
Bến bờ Hạnh Phúc… bao giờ tới nơi?
Lại nghèo, nghèo rớt mồng tơi
Bởi chưa tìm thấy cái nơi cần tìm!

Hỏi nơi mình gửi niềm tin
Các Nghị “gật” gật: Muốn tìm?
Kiếp sau!

Tức mình, văng bậy một câu…
Vợ quát: Đã họp xong đâu… mơ à?

Thanh Sơn