Month: Tháng Năm 2013

Thiên bẩm chỉ là thể xác, vô giáo dục bất thành nhân tài

Posted on Updated on


Nguyễn Hoàng Đức

Có rất nhiều người Việt luôn đeo dính bảo bối mang tính “bảo kê” cho tài năng của mình “không có thiên bẩm thì có học mấy, sáng tạo mấy cũng chẳng thể thành tài”. Vậy chúng ta thử nhìn đi, ở Việt Nam đã có con người xuất chúng nào thiên bẩm nhiều đến mức không học cũng thành tài? Về điểm này người Việt đã nói “không thầy đố mầy làm nên”. Hoặc còn có câu “có chí thì nên”. Nghĩa là người Việt còn đề cao cái Chí hơn thiên bẩm.

Thử nhìn kỹ hơn vào các tác giả. Thi hào Nguyễn Du dù chẳng được coi là thiên bẩm, nhưng mới đây UNESCO đã tôn vinh ông là một Danh nhân văn hóa thế giới, với tác phẩm chính “Truyện Kiều” – một truyện chế tác lại cuốn sách của Tầu “Kim Vân Kiều truyện” của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du được đánh giá là người làm giầu ngôn ngữ tiếng Việt.

Còn nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa, có thể được coi như có thiên bẩm thần đồng thơ hàng đầu thế giới, nhưng con đường của T Đ Khoa còn bao nhiêu dặm để chạm đích thiên tài? Có thể nói là mù mịt và bất khả, một đường viền chân trời nhưng chỉ ở tầm nhìn biên giới tuổi ấu niên.

Không chỉ Trần Đăng Khoa, mới đây trong một cuộc hội thảo về nhà triết học Trần Đức Thảo, có ý kiến đánh giá: Trần Đức Thảo là một thần đồng triết học chứ không thể là thiên tài triết học. Có nghĩa là sau năm 27 tuổi, nhận xong bằng cử nhân của trường Sư Phạm Paris, T Đ Thảo đã không hề tăng trưởng độ cao, ông kết thúc và dẫm chân tại chỗ. Ông về nằm chờ ở chiến khu Thái Nguyên, chờ được xếp một chân cán bộ nào đó. Như vậy, dù ông tây học, nhưng vẫn mang nặng cái tư tưởng phong kiến Tầu muốn “học ưu nhi tắc sĩ” – học giỏi thì làm quan. Và không được xếp quan như ý muốn, đời ông mòn mỏi mục ruỗng trong vai cán bộ dự bị chờ đóng thế. Nhưng ông mãi mãi chỉ là một nhân vật dự bị. Dự bị lâu quá, ông trở thành dự bị ngay cả với triết học. Năng lực dấn thân, nhiệt huyết khoa học, óc khám phá sáng tạo của ông chẳng có gì khác hơn một năng lực chờ xe. Cam chịu chờ xe và mang sách báo ra đọc.

Giờ chúng ta hãy bàn vào thiên bẩm. Triết gia Aristote cho rằng: Thiên bẩm được sinh ra cùng thân xác, và chỉ là thứ ngang bằng thân xác thôi. Tại sao? Bởi vì thiên bẩm được sinh ra cùng với con người, ai cũng như ai. Ông còn bảo: không có đứa trẻ nào sinh ra mà không cần học. Như vậy thiên bẩm luôn thấp hơn giáo dục. Thiên bẩm mới chỉ là thân xác. Chỉ có giáo dục mới mang đến cho con người tinh thần.

Aristote còn quả quyết rõ ràng mạnh mẽ: Con người có thể gặp may. Nhưng không có con người đức dục tốt, nhân cách đẹp nào không qua rèn luyện mà có được.

Nhà văn thì phải có giá trị nhân văn cao cả, từ đó mới mong tỏa chiếu cho mọi người, vậy mà nhân cách anh kém, anh lại đòi cho ra đời tác phẩm đồ sộ sao?

Một con ngựa hoang bao giờ cũng chạy nhanh hơn một con ngựa thuần chủng, nhưng để thi chạy vượt rào cần tốc độ và khéo léo thì con ngựa hoang luôn thua con ngựa được rèn luyện. Vả lại con ngựa hoang không thể đem đi đánh trận, qua trận địa nó lại hý, lộ hết cả chiến sĩ bị phơi ra trước vô số làn đạn, thì ngựa hoang chạy nhanh để làm gì. Gần đây, rất nhiều người mua chó cảnh đắt tiền, nhưng mua xong, người ta liền bỏ một khoản tiền không nhỏ gửi chó đi huấn luyện. Như vậy chứng tỏ, con chó hoang không thể quí bằng con chó đã qua rèn luyện. Một chiếc ô tô siêu tốc, nhưng nó không có tay lái để điều khiển, lại chẳng có phanh, chưa chạy đã đâm bừa, bốc cháy, gây nổ, thì phân khối lớn để làm gì?

Thiên bẩm như hạt giống vậy. Trong Kinh Thánh, Chúa Jesus có nói: Cùng là hạt giống, nhưng hạt rơi xuống đá sỏi sẽ không thể mọc mầm rồi bị chim trời mổ mất, hạt rơi vào bụi gai sẽ bị nghẹt, chỉ có hạt rơi vào đất tốt mới có thể trổ mầm lớn lên. Rơi vào đất tốt là thế nào? Đó chính là hệ điều hành và bánh lái của lý trí. Trời cho tôi là một hạt giống thơ ư, tôi chẳng cần học cứ thế nghêu ngao hát rồi mong đợi các vành nguyệt quế hay các giải thưởng leo thang ư? Một Trần Đức Thảo học hành uyên bác là vậy, sao lại từ bỏ nguyên tắc của khoa học mà ước mơ làm cán bộ? Sao lại đem hạt giống phi phàm đó vào gieo ở chiến khu rừng rú?

Trên thế giới người ta xác định không có thần đồng văn chương. Tại sao? Vì văn chương là con người, văn chương là cuộc đời. Vì thế văn chương đòi trải nghiệm. Âm nhạc là môn nghệ thuật chất chứa nhiều tính thiên bẩm thần đồng nhất, và nhạc sĩ thiên tài Morzat cũng được coi là người có nhiều thiên bẩm nhất, ấy vậy mà ông chỉ sáng tác được bản nhạc Đám cưới Figaro lừng danh sau khi đã trải nghiệm một tình yêu mê đắm tơi bời và một cơn thất tình nghiền nát trái tim sục sôi vỡ vụn bao đêm trường đau khổ vẫn lộng lẫy ánh đèn sân khấu. Còn nhạc sĩ thiên tài Beethoven thì sao? Ông là người vừa mù vừa điếc. Đã điếc thì còn thiên bẩm cái gì nữa, thậm chí đó còn là tài sản nạo vét khánh kiệt của bản năng, ông sáng tác bằng cách dùng một chiếc đũa nối từ phím đàn đến tai. Nhưng tại sao nhạc của ông vẫn trôi chảy dào dạt bay bổng khơi sâu mãnh liệt? Vì ông sáng tác bằng lô gic và tinh thần kiến trúc của âm thanh. Và đó là một bậc thầy. Sáng tác bằng lý trí luôn là bậc thầy vì nó dạy được cho người khác. Còn sáng tạo bằng thiên bẩm thì chẳng có gì dạy được cho người khác cả.

Câu chuyện về thiên bẩm của chúng ta đã rõ ràng mạch lạc về mọi nẻo. Để minh định hơn, tôi xin nhắc lại tuyên ngôn của Aristote: Người ta có thể may mắn, nhưng không có người nào có nhân cách lớn mà không phải rèn luyện. Qua quan sát tôi thấy rõ ràng thể chất của người Việt yếu mấy điều sau:

– Đam mê yếu: Triết gia Nietzsche có nói “Không phải đam mê mãnh liệt làm nên thiên tài mà là sự kéo dài của đam mê đó”. Người Việt thưởng chỉ đủ đam mê cho vài bài thơ tức cảnh sinh tình ngắn tũn, viết tiểu thuyết là không ổn, sáng tác ca khúc thì được, chứ viết giao hưởng thì lửa bao diêm xoẹt lên dễ dàng kia chẳng bao giờ có thể soi rọi thâu đêm trường trong câu hò điệu vũ.

– Nhiệt huyết yếu: nhiệt huyết ở đây là ý chí. Ý chí này thường cả thèm chóng chán dễ nản, chầu rìa ham vui tí tởn như “ngày hội thơ” quấn cả giấy vệ sinh lên người làm trò đọc thơ, rồi bay lên cả sân khấu diễn thơ, nhưng bên trong nội hàm tư tưởng có bao nhiêu? Nhiệt huyết đó đã sôi sục được bao nhiêu đêm trường?

– Lý trí yếu: tức giáo dục yếu, vì thế không thể trở thành một kiến trúc sư cho tác phẩm. Do vậy, tác phẩm luôn luôn chỉ là tiểu phẩm mà khó trở thành công trình tác phẩm. Chẳng hạn, một Nguyễn Huy Thiệp nổi tiếng về truyện ngắn đến vậy, nhưng chỉ cần bay vào bầu trời tiểu thuyết chữ to, hay mini, thì gãy cánh liền. Còn kia cả nghìn nhà thơ gục ngã không tiếng động trước trường ca không có nhân vật và kịch tính, đủ thấy tài sản lý trí của họ chỉ nhiều hơn con số “không” một tẹo.

Tôi xin mời và chắc chắn rằng, ở Việt Nam, bạn không thể chỉ ra một ai cậy thiên bẩm mà có tài năng phi phàm cả. Nếu bạn muốn chỉ bằng Trần Đăng Khoa, thì đó là một sự kịch trần đấy. Chỉ cần bằng một nửa Nguyễn Du, đi chép và chế tác sách hạng hai vẫn có nhiều cơ hội thành công hơn hạt giống đầu mùa Trần Đăng Khoa. Vậy thì ta chớ nên ảo tưởng việc trông chờ vào thiên bẩm. Trái lại, tôi nhìn thấy căn gốc rằng: hầu hết những người học hành ấm ớ, lỗ mỗ, chưa tới nơi tới chốn, thì mới tìm cách tự hào rằng ta có thiên bẩm. Thiên bẩm đó muốn mặc định lớn hơn giáo dục.

Người Việt nói thiên bẩm là “Trời cho” chỉ là thứ “trò chơi” thôi. Người ta cũng bảo: kẻ cậy vào thiên bẩm “vốn tự có” là chưa có chút nào tài sản của tinh thần cả. Tinh thần và thể xác khác nhau thế nào? Thánh Augustino nói: “Một linh hồn quí hơn cả vũ trụ này”.

NHĐ 31/05/2013

Ta có phải nhân dân không nhỉ?

Posted on Updated on


Hoatiensinh

Phút 89 trên sân sửa đổi hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt Nam, ông Lý đại diện Quốc hội và UB sửa đổi Hiến pháp xuất hiện trên nghị trường tuyên bố ráo hoảnh “không có gì thay đổi cả”, cái lý mà ông Lý này đưa ra nhiều điều, nhưng tựu chung lại, mấu chốt lại là bấu víu vào 1 thứ rất khó cãi, đó là nhân dân. Nhân dân đồng ý như vậy.
Sải cánh theo con sếu đầu đàn Trung Lý, nhiều ông nghị hùa theo, vâng đúng, nhân dân bảo vậy, có vị còn nói chắc nịch, nếu đưa ra trưng cầu dân ý, chắc kết quả cũng đương nhiên là thế, lúc đấy, các “thế lực thù địch”, các “phần tử phản động” hết đường xuyên tạc, bới móc.
Trước đó, nhiều ông GS.TS cấp tướng cũng nói như dao chém đá, Hiến pháp của ta không thể khác, rằng chỉ có Đảng CSVN mới xứng đáng là tổ chức lãnh đạo Nhà nước, xã hội và toàn dân tộc Việt, lịch sử đã chứng minh vậy, tương lai cũng sẽ như vậy.
Ôi thôi, cãi với mấy ông này khó lắm, nhưng ta chỉ băn khoăn tự vấn, thế nhân dân ở đâu nhỉ? ta có phải là nhân dân không?
Ta có chứng minh thư nhân dân, ta có hộ khẩu Thủ đô, mà là hộ khẩu Hoàn Kiếm hẳn hoi nhé, ta cũng thuộc dạng công dân được cấp bằng gia đình văn hóa, được Đảng và Nhà nước cho ăn học đến tận sau Đại học, ta cũng đang có chút đóng góp thuế doanh nghiệp, thuế cá nhân vào cái túi ngân sách vốn luôn thủng đáy của nhà nước này. Lẽ ra, trong đợt lấy ý kiến nhân dân góp ý sửa đổi Hiến pháp lần này, ta cũng được hỏi mới phải, thế nhưng tuyệt nhiên không, hỏi bạn bè ta cũng tuyệt nhiên không, có bạn cũng là Đảng viên cơ mà. Thế là các ông ấy cóc coi ta là nhân dân rồi, uh, nhưng nghĩ thế cũng chưa hẳn thuyết phục, nước Nam ta hiện thời cứ cho là có 90 triệu nhân dân, ta trừ những thằng tù ra, ta trừ trẻ em, ông, bà già ra thì chắc cũng còn khoảng 50 triệu người trưởng thành, không thể yêu cầu các ông ấy lấy ý kiến hết 50 triệu người này, chắc các ông ấy làm theo 1 phương pháp khoa học nào đó, lấy mẫu đại diện chẳng hạn. Vậy chắc là ta và bạn ta không nằm trong nhóm mẫu. Thôi thế cũng yên tâm, chả thắc mắc, thắc mẹo làm gì.
Sự việc đã rồi, nhưng rảnh việc, ta nói lại cho vui, nếu ta được hỏi, được đóng góp vào dự thảo sửa đổi Hiếp pháp, thì ta cũng theo các bậc thông thái, các bậc đức cao, vọng trọng mà phê thế này:
1. Đảng CSVN là lực lượng tham gia lãnh đạo nhà nước, xã hội. Đảng lãnh đạo toàn diện nhà nước, xã hội khi được đa số nhân dân tín nhiệm thông qua trưng cầu dân ý công khai bằng nhiều phương pháp khác nhau do đại diện của nhân dân lựa chọn;
2. Đảng CSVN đại diện cho giai cấp công nhân (công nhân nhà nước thôi, mà phải có BHXH nhé), là đội tiên phong của giai cấp. Đảng dựa vào liên minh công – nông – trí thức để thực hiện vai trò tham gia lãnh đạo nhà nước và xã hội; Đảng CSVN thật sự lấy hòa hợp dân tộc làm tôn chỉ hoạt động và lý tưởng phấn đấu.
3. Tên nước CHXHCN Việt Nam đổi thành Việt Nam dân chủ Cộng hòa như tên mà Bác Hồ kính yêu đã đặt khi tuyên ngôn độc lập.
4. Quân đội tuyệt đối trung thành với tổ quốc và dân tộc, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì toàn vẹn lãnh thổ, vì tự do và độc lập dân tộc.
5. Nhà nước công nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai, nhà nước có bổn phận bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của mọi công dân, xem đó là quyền bất khả xâm phạm. Chỉ khi tình trạng an ninh quốc gia bị đe dọa, Nhà nước mới được quyền thu hồi đất đai của nhân dân.
6. Mô hình kinh tế của nước Việt Nam là mô hình kinh tế thị trường, tự do cạnh tranh trong khuôn khổ luật pháp, mọi chủ thể sản xuất, kinh doanh đều thật sự bình đẳng trước pháp luật và thật sự bình đẳng tiếp cận nguồn lực và tài nguyên của đất nước. Tài sản của doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức tôn giáo được nhà nước bảo vệ và là quyền bất khả xâm phạm.
Nếu như nước ta có bản Hiến pháp với các vấn đề chủ chốt như trên, thì theo cái đầu ngắn ngủi của ta, chắc chắn sẽ tạo động lực cho mọi nguồn lực, là cái đà cho dân tộc này dần đi lên giống như anh Nam Hàn, Singapore, xa hơn nữa là Nhật Bổn, Hoa Kỳ, Âu châu.
Riêng vấn đề tên nước, đưa ý kiến tiếc nuối hỏi ông bạn, ta được ông ấy bảo, tên gì không quan trọng, quan trọng là thể chế của nó, đổi tên bây giờ việc tốn kém về logo, quốc huy, văn bản không quan trọng, nhưng phải in lại tiền. In tiền, đổi tiền là vấn đề đại sự, dễ gây xáo trộn xã hội.
Ta nghĩ, ý kiến đó cũng đáng suy ngẫm, nhưng không phải là việc không thể làm.
Hoatiensinh

Nhìn nhận sự kiện Trương Duy Nhất

Posted on


Đàm Mai Đạo- DL

Vụ việc blogger Trương Duy Nhất bị bắt theo điều 258 Luật Hình Sự đang trở thành đề tài thời sự nóng trên hầu hết các diễn đàn tự do. Tôi cũng muốn góp thêm một góc nhìn với tư cách từng là người cộng sản gần 30 năm trong quan niệm làm rõ hơn việc bắt giữ này.

I. Quan điểm chính trị của Trương Duy Nhất như thế nào?

Bài viết không đi sâu vào vấn đề luật pháp, dù là (điều) 258 hay 88 hoặc 79, vì nó trở nên vô nghĩa khi chiếu theo “quan điểm chính trị” của người cộng sản Việt Nam [*] hiện nay. Do đó, nếu có phản hồi nào thắc mắc và muốn tranh luận về luật pháp sẽ thất vọng khi đọc bài viết này và cho phép người viết miễn hồi đáp với những luận điểm về pháp lý.

Tuy nhiên, cần nhắc qua một chút về Quyền Con Người, mà một trong các quyền đó là quyền tự do ngôn luận.

Thực vậy, như Evelyn Beatrice Hall đã viết: “I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it”. Nữ văn sĩ Evelyn Beatrice Hall tôn trọng tuyệt đối quyền tự do ngôn luận, nhưng cần lưu ý hoàn cảnh ra đời câu nói nổi tiếng này là từ việc bà hoàn toàn tin tưởng Voltaire khi chắp bút viết tác phẩm “The friends of Voltaire”. Chúng ta đều biết Voltaire là một Triết gia với tư tưởng lớn vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Do vậy, “bảo vệ đến chết” “quyền được nói” chỉ có ý nghĩa khi tiếng nói đó là tiếng nói đại diện cho quảng đại quần chúng và đảm bảo khoa học nhằm phục vụ xã hội phát triển văn minh.

Không ít người, dù cố ý hay vô tình, khi áp dụng câu nói này để thực hiện “quyền tự do ngôn luận” của họ lại không quan tâm đến việc xâm phạm danh dự, lợi ích, đời tư v.v… của người khác (có nghĩa không phải là những người nhận lợi ích từ nhân dân, bởi bất kỳ ai, khi nhận lợi ích (lớn, nhỏ, công khai hay mờ ám) từ nhân dân đều phải chấp nhận mọi phán xét, miễn phán xét và chỉ trích đó có căn cứ).

Do đó, bảo vệ quyền tự do ngôn luận chỉ thật sự có ý nghĩa khi quyền đó nhằm cổ súy và bênh vực mạnh mẽ cho quyền tự do ngôn luận của rất nhiều người khác trong xã hội mà những ngôn luận này nhằm mục đích nâng cao nhân quyền, dân chủ cho những xã hội như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên v.v… chứ nó không cổ súy cho việc dùng quyền tự do ngôn luận của một hay một vài nhóm người nhằm bảo vệ lợi ích đan xen chằng chịt để chống lại nhau/đánh phá nhau vì lợi ích (chính trị và kinh tế) của họ có mâu thuẫn (nghiêm trọng) lẫn nhau trong nhóm cầm quyền cao cấp của người cộng sản Việt Nam hiện nay.

Tệ hơn nữa, khi sử dụng lợi thế nào đó kèm theo sự nổi tiếng cá nhân như những ngôi sao mặc áo “tự do ngôn luận” nhằm lấn át, đè bẹp những tiếng nói bất đồng chính kiến khác (bởi họ không có lợi thế ấy). Nhiều lần tồi tệ hơn, khi những tiếng nói bất đồng chính kiến khác không đủ khả năng và lý luận chính trị, bởi họ chỉ là những thường dân.

Cần thiết hơn chăng, khi chúng ta đặt câu nói của Evelyn Beatrice Hall trong hoàn cảnh thực tại Việt Nam nên nhắm thẳng đích tới giá trị Nhân Quyền và Dân Chủ – những việc còn quá thiếu thốn, thay vì cách đặt vấn đề của một số blogger mấy ngày qua khi lên tiếng bênh vực cho ông Trương Duy Nhất như là “quyền tự do ngôn luận” của ông đang bị xâm phạm nghiêm trọng??? Tôi không nói về luật pháp, mà nói về cái phía sau những điều mượn “áo luật pháp”, dù phía bên nào đi chăng nữa.

Đó có phải những khác biệt quá lớn giữa blogger Trương Duy Nhất và các tù nhân lương tâm, các blogger khác khi ông Nhất được gọi là “nhà bất đồng chính kiến” như RSF mô tả trong một bài viết mới đây [1]?

Không thể gọi ông Trương Duy Nhất là “nhà bất đồng chính kiến”.

“Nhà bất đồng chính kiến” là gì? Có thể nói ngắn gọn: Người không đồng ý và phản bác lại chế độ cầm quyền hiện hữu một cách khoa học về quan điểm chính trị cơ bản, phổ quát mà đại đa số quốc gia trên thế giới đã cùng công nhận và cam kết thực hiện khi tham gia LHQ. Trong khi đó, blogger Trương Duy Nhất, từ tuyên bố cá nhân cho đến nội dung các bài viết không phải là “blog phản động” và luôn kiểm soát chặt chẽ phản hồi nào có ý định chống phá đảng & nhà nước (tất nhiên theo quan điểm của ông Nhất khi cho hiện hay xóa phản hồi) mà ai cũng biết.

“Phản động” – chữ mà tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần từng đòi hỏi phải thật minh bạch, khoa học và tránh chụp mũ, nhưng chưa bao giờ chế độ cầm quyền hiện tại đáp ứng yêu cầu của chị. Nhiều người cũng biết chữ này, có thể nói, toàn bộ các tù nhân lương tâm và nhiều blogger bất đồng chính kiến khác không bao giờ dùng đến với ý nghĩa phản bội dân tộc, chống lại Tổ quốc. Chỉ những trang báo của “nhà nước” như ND, QĐND, CAND v.v… rất hay dùng trước đây, nhưng sau này đã mai một ít nhiều khi đồng loạt chuyển sang cụm từ mới “thế lực thù địch” sau khi bị quá nhiều phản đối với lập luận chỉn chu và khoa học.

Trương Duy Nhất vẫn “kiên định” với cụm từ “phản động” như ông nhiều lần tuyên bố ông không thuộc về nó, mặc dù ông chưa bao giờ định nghĩa hay tìm sự đồng thuận xã hội như thế nào.

Blogger này cũng chưa bao giờ miệt thị hay đòi giải tán (xin nhấn mạnh) tổ chức ĐCSVN hoặc giả, đòi xóa điều 4 HP như rất nhiều người khác, trong đó TS. Cù Huy Hà Vũ là nạn nhân điển hình cho việc đòi xóa điều ấy.

Không chỉ cụm từ “phản động”, quan điểm chính trị của blogger Trương Duy Nhất rõ và xuyên suốt từ ngày ông mở trang “motgocnhinkhac”. Vâng! Đó là “một góc nhìn khác”, không phải “một cái đầu khác”, bởi ai cũng biết bộ não là quan trọng nhất khi nó điều khiển mọi bộ phận cơ thể.

Ông luôn tỏ ra yêu mến và tỏ rõ thiện chí để làm sao cho ĐCSVN ngày càng tốt hơn qua nhiều bài viết, trong đó nổi bậc nhất là bài “Trị Đảng” [2]. Bài viết đó, dù lên tiếng mạnh mẽ, nhưng ông vẫn thật tâm yêu quý chế độ hiện hành, chỉ muốn nó tốt hơn, ngày càng hoàn thiện, mạnh mẽ hơn. Admin trang Dân Luận – ông Nguyễn Công Huân cũng từng cảm phục tấm lòng và sự can đảm của blogger này nhưng vẫn tỏ ra băn khoăn và nghi ngờ tính khả thi của ý kiến “trị đảng”, bỏi nó chỉ là biện pháp nửa vời:

Admin gửi lúc 04:52, 03/01/2012 – mã số 48690

Sét đánh giữa trời quang Bác Nhất làm báo ở Việt Nam, đã được bác Tom Cat nhắc nhở mà vẫn không ngần ngại chơi một bài như dzầy, phục lá gan bác Nhất thiệt!

Tuy nhiên, dù phục thì phục, nhưng vẫn phải đóng vai trò phản biện chút: Bác Nhất viết bài này được ở phần… đặt vấn đề. Còn chỗ dựa vào dân để chỉnh đốn Đảng thì ai cũng có thể nói được, nhưng dân rốt cuộc là ai? AI? AI?

Mỗi cá nhân mở miệng ra “chỉnh đốn Đảng” đều có cơ được ngồi tù với tội danh “tuyên chiền chống phá nhà nước XHCN”, ai sẽ là người bảo vệ họ? Mỗi nhà báo phanh phui một vụ tiêu cực lại có nguy cơ vô tù vì lộ mật (PMU18) hay hối lộ (vụ Hoàng Khương mới đây), thì ai sẽ dám nói nữa? Phải cho những cá nhân đó được kết lại thành một khối, không phải là những cây đũa dễ bẻ, thì mới mong đối chọi lại được với quyền lực của nhà nước. Nhưng như thế không tránh khỏi vấn đề tổ chức, đảng phái, cạnh tranh chính trị, hay đa đảng…

Tóm lại là có cửa nào để không đa đảng mà dân vẫn được quyền “chỉnh đốn Đảng” đây?

Ngoài ra, bài viết ngắn và tiêu biểu của Blogger Trương Duy Nhất có tựa “Tổng Bí thư và Thủ tướng nên ra đi” [3] cũng chỉ khuyến nghị cá nhân ông Trọng và ông Dũng nên rút lui với khả năng (mà ông Nhất cho rằng) không xứng đáng và không đáp ứng nổi trọng trách. Bài viết này cũng không hề đả động gì đến chế độ cầm quyền hiện hữu.

Ông Trương Duy Nhất chưa bao giờ chống lại nhà nước bởi ông Nhất hoàn toàn tôn trọng ĐCSVN, mà ĐCSVN (thì) lãnh đạo cả nhà nước và xã hội.

Ông Trương Duy Nhất trung trinh với ĐCSVN (như các chứng minh trên) thì tại sao ông lại không yêu mến nhà nước CHXHCNVN??? Dứt khoát, ông không hề “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

II. Những luận điểm khi Trương Duy Nhất bị bắt:

(Xin nhấn mạnh: đây là những quan điểm khả dĩ, chiếu theo “quan điểm chính trị” của người cộng sản hiện nay, mà tôi với tư cách cá nhân từng trải nghiệm nhiều trong các cuộc họp chi bộ, người ngoài đảng khó hình dung đến. Không hình dung đến, nhưng không có nghĩa nó không tồn tại và không bao giờ xảy ra, bởi có những sự thật hàng chục năm qua vẫn có khi mờ khi tỏ)

Ở đời có câu “Ăn để sống chứ không phải sống để ăn” và ai cũng biết muốn làm gì cũng phải… ăn cơm mỗi ngày. Do đó, cũng đáng băn khoăn, kể từ khi blogger này rời khỏi các “trang báo nhà nước”, ông làm gì để sinh sống, chưa nói ông đã trưng bày nhiều hình ảnh ra nước ngoài (từ Canada cho đến Lào) và những chuyến đi dọc các tỉnh Việt Nam rất tốn kém với nhà hàng, khách sạn, rượu tây, chứ không chỉ là ngày ba bữa cơm bình thường. Đó cũng có thể là câu hỏi của Bộ công an khi thực hiện lệnh bắt ông???

Trong khi các blogger khác rất khó khăn khi lên tiếng, dù ôn hòa nhất với lý lẽ vững chắc, nội dung đạt tính khoa học cùng thời gian viết blog khá lâu nhưng bị xách nhiễu, khủng bố đủ điều thì blogger Trương Duy Nhất tỏ ra nhàn nhã với những cuộc du hí trong, ngoài nước cùng những bài viết chưa thể gọi là tầm cao hay mới lạ nếu độc giả muốn so sánh. Bài viết của ông phần lớn chỉ đạt tính thời sự nóng bỏng với ngôn từ mạnh, chắc và có đôi phần “dữ”, thay vì tính tư tưởng hay chính trị cao thâm như nhiều blogger khác.

Người ta cũng thấy ông chỉ trích kịch liệt (xin nhấn mạnh) cá nhân các lãnh đạo cấp cao ở Trung ương, điều này hoàn toàn đúng bởi (như phần I tôi đã viết) “bất kỳ ai, khi nhận lợi ích (lớn, nhỏ, công khai hay mờ ám) từ nhân dân đều phải chấp nhận mọi phán xét, miễn phán xét và chỉ trích đó có căn cứ)”. Nhưng tuyệt nhiên, người ta không thấy ông chỉ trích những người cùng địa phương nơi mà ông cư trú dù họ đang ở trong BCHTWĐ, ngược lại ông không ngại ngần tung hô và ủng hộ thẳng thắn. Đó có phải lý giải thêm điều chúng ta sẽ bàn tiếp sau đây?

Nếu ai từng là người cộng sản, cũng đều hiểu rõ trích dẫn dưới đây:

Chương II

NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG

Điều 9.

Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là :

1. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ).

3. Cấp uỷ các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp uỷ cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.

4. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.

5. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.

6. Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên.

Buộc lòng phải dẫn chi tiết điều 9 của điều lệ ĐCSVN như trên để hầu quý độc giả rằng:

Cần lưu ý cụm chữ “không được phép truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng“. Đó là một trong những nguyên tắc bất di bất dịch của người cộng sản.

Chắc chắn câu hỏi mà giới an ninh đặt ra cho ông Nhất sẽ là câu này khi gắn kết với việc ông biết trước việc ông Nguyễn Bá Thanh, ông Vương Đình Huệ rớt trong kỳ hội nghị vừa qua. Ai đã “truyền bá” cho ông Nhất điều bí mật này? Đó có lẽ là điều người cộng sản muốn hơn là chỉ nhắm vào cá nhân ông Nhất?

Có thể một số độc giả sẽ phá lên cười khi đọc đến đây? Thưa, người cộng sản có nhiều “tuyệt chiêu” để bằng mọi giá khai thác những điều họ muốn. Chỉ có ý chí kiên cường cộng với tấm lòng trong sáng thật sự mới vượt qua nỗi tất cả những khảo tra. Điều này chỉ có ý nghĩa đối với những ai thật sự đáng trân trọng để gọi “TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM”. Tất nhiên, Trương Duy Nhất không thể dùng “trá hàng” hay “khổ nhục kế” như anh Lê Thăng Long. Lý do? Có lẽ chúng ta hãy tự suy luận theo quan điểm của mỗi người.

Trong nội bộ cấp cao nhất của người CS trước khi bắt ai đó (dù đảng viên hay không) liên quan đến chính trị, nhất định đều có bàn bạc và biểu quyết theo nguyên tắc (như thượng dẫn) của họ. Điều này dễ chứng minh qua vụ án các tù nhân lương tâm:

A/ Trần Huỳnh Duy Thức cùng với Lê Công Định, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung mà tác giả Nguyễn Ngọc Giao từng cho biết [4] có sự không đồng thuận trong nội bộ cấp cao, nhưng cuối cùng các vị nêu trên cũng bị bắt.

B/ Cù Huy Hà Vũ – cũng là một trong các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng với đơn kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và công khai đòi xóa bỏ điều 4 HP đã từng bị nhân vật với bút danh Tomcat cảnh cáo bằng cụm từ “cân bằng động” như sau [5]:

Trái ngược với vụ án của Lê Công Định – Nguyễn Tiến Trung – Trần Huỳnh Duy Thức – Lê Thăng Long, Bộ chính trị tỏ ra không đồng nhất trong việc đánh giá và xử lý trường hợp của tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ bởi những mối quan hệ rất lắt léo ở cấp rất cao mà ông Vũ đang có trong tay, chính vì vậy mà chưa có bất cứ động thái nào của cơ quan chức năng với tiến sỹ Vũ, tuy nhiên sự cân bằng động này đã đi đến hồi kết khi Bộ Chính Trị đã trở [lên] tương đối thống nhất trong việc áp dụng các biện pháp mạnh sắp tới với Tiến sỹ Hà Vũ bởi số lượng những thành viên Bộ chính trị bị ông Hà Vũ công kích ngày càng nhiều thêm: Đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sau đó là Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Bí thư thành ủy Tp HCM Lê Thanh Hải và gần đây nhất là đồng chí Út Anh – Bộ trưởng Công An Lê Hồng Anh. Chưa kể đến gần một số tướng công an và nhiều thành viên khác nằm trong Ban Chấp Hành TW Đảng. Theo nguyên tắc làm việc và bỏ phiếu tập thể cùng với những bản báo cáo mới nhất của Bộ Công An thì số phận của ông Cù Huy Hà Vũ đã được định đoạt.

Lưu ý thứ nhất: chữ “LÊN” như trong trích dẫn, cho thấy nhân vật này nhất định là người miền Bắc, không phải như đồn đoán là người trong Nam, dù TS. Vũ bị bắt tại Sài Gòn.

Lưu ý thứ hai: Có thể một số độc giả chưa quen lắm với nghĩa “cân bằng động” mà người cộng sản dùng. Do đó, tôi mạn phép giải thích: điều này có nghĩa, đứng trước một quyết định bắt giữ có liên quan đến các nhân vật cao cấp trong BCT hay TWĐ, họ luôn sử dụng phương pháp biểu quyết. Sự biểu quyết này, độc giả có thể hình dung như mặt đồng hồ bàn cân. Kim chỉ về “hướng bắt giữ” hay hướng ngược lại sẽ xê dịch, lắc lư theo chiều gió mà trong nội bộ người CS tạo ra. Tùy “kim đồng hồ” lắc tới lắc lui cho đến khi ngã ngũ. Quãng thời gian này có thể diễn ra chậm khi các phe chưa chiếm được thế thượng phong, diễn ra thật nhanh khi cân bằng đã bị phá vỡ. Như thế (tạm gọi) là “cân bằng động” (vì “kim bắt giữ”, nó có nhích tới nhích lui để tìm cách sao cho ổn thỏa mọi bề).

Trong trường hợp Trương Duy Nhất bị bắt, có lẽ cân bằng đã bị phá vỡ ngay khi tin chính thức ông Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ không vào được BCT.

Trên các trang blog hiện nay, nhiều trang đang sử dụng “hư chiêu” khi đổ cho ông này, ông kia, phe này, nhóm nọ, chẳng qua để đánh lạc hướng, tung hỏa mù theo cách “tai bay vạ gió” và thăm dò dư luận cũng như các tin tức khác, tình huống khác và kể cả…phương án kết tội khác, trong khi vẫn rốt ráo điều tra ông Trương Duy Nhất để…phá án (!). Bởi ai cũng biết, người cộng sản muốn tội nào là ra tội đó.

Với kinh nghiệm 30 năm làm người cộng sản, tôi đánh giá khách quan việc Trương Duy Nhất bị bắt là do các phe phái đánh nhau và ông Nhất trở thành vừa là nạn nhân vừa là đồng lõa (chí ít đồng lõa ở góc độ đã nhận tin mật do ai đó cung cấp), chưa nói về kinh tế cá nhân hay phục vụ, làm việc cho ai cả.

III. Kết:

Dù sao đi nữa, không nên gọi ông Nhất là “nhà bất đồng chính kiến” như RSF gọi, hay bênh vực ông ở góc độ “quyền tự do ngôn luận” bị xâm phạm theo cách diễn giải luật pháp như là “điều 258″ mù mờ, vô nghĩa tựa “điều 88″ chẳng hạn, bởi những cái đó trở nên vô nghĩa khi quý độc giả gắn kết với những chi tiết mà tôi vừa trình bày.

Gió đã xoay chiều, không có nghĩa nó không xoay chiều ngược lại như vụ việc bắt giữ blogger Phạm Chí Dũng, sau đó phải trả tự do và báo Tuổi trẻ đã cải chính và xin lỗi ông ấy. Gió có thể xoay nhiều chiều khác nữa, bất kể lúc nào và xin hãy lưu ý về “cân bằng động” mà người cộng sản sử dụng khi dõi theo vụ án “Một Góc Nhìn Khác”, xem thử nó có gì khác ngoài điều 258, 88?!

Đàm Mai Đạo

Sài Gòn 28/5/2013
___________

Bài viết mang tính khách quan không có ý đả kích hay bôi nhọ, “đá đểu” gì blogger Trương Duy Nhất.

Bài viết được gởi đến: Trang Dân Luận, blogger Nguyễn Tường Thụy và trang Con Đường Việt Nam, trang Dân Làm Báo tùy nghi sử dụng và đăng tải.

[*] Tại sao tôi không dùng ĐCSVN? Xin thưa, nó đã không còn là một tổ chức tối thiểu cần có với tư cách một tổ chức chính danh, chính đáng và chính nghĩa, chưa bàn đến tổ chức ĐCSVN “vì dân”, “vì nước”. Do đó tôi đồng ý với khái niệm “người cộng sản” của tác giả Nguyễn Ngọc Già trong “Bài viết tặng người đẹp Lý Nhã Kỳ”. https://danluan.org/tin-tuc/20130505/bai-viet-tang-nguoi-dep-ly-nha-ky

http://vietnamhumanrightsdefenders.net/2013/05/27/blogger-vua-bi-bat-tung-khang-dinh-ong-khong-phai-toi-pham-cung-khong-phan-dong/ [1]

https://danluan.org/tin-tuc/20120102/truong-duy-nhat-tri-dang [2]

https://danluan.org/tin-tuc/20130424/truong-duy-nhat-tong-bi-thu-va-thu-tuong-nen-ra-di [3]

https://danluan.org/tin-tuc/20100215/nguyen-ngoc-giao-bon-nguoi-ay-la-ai [4]

https://danluan.org/tin-tuc/20100821/loi-nhac-nho-gui-toi-tien-si-luat-cu-huy-ha-vu [5]

Nhắn tin: Anh Nguyễn Tường Thụy mến! Anh đừng băn khoăn và nặng lòng nữa. Anh hiểu ra thiện ý của tôi là tôi mừng rồi. Tôi không trách và buồn gì anh cũng như các độc giả khác đã chỉ trích nặng lời và có phần kém văn hóa. Đặc biệt anh dẫn ra ý kiến của tôi trong bài “Hãy tha thứ cho Trương Duy Nhất” đó là ý kiến cơ bản mà tôi muốn truyền tải đến mọi người.

http://nguyentuongthuy2012.wordpress.com/2013/05/27/doi-loi-ve-bai-hay-tha-thu-cho-truong-duy-nhat/

Tôi cũng cám ơn anh Thụy khi anh rất tinh ý nhận ra một chi tiết rất nhỏ nhưng vô cùng ý nghĩa, đó là chữ “ông ta” thay vì “ông ấy” khi tôi đề cập đến ông Nguyễn Phú Trọng.

Mạn phép thưa với các quý vị người Việt hải ngoại về chi tiết nhỏ đó: Trong tiếng Việt, chữ “ông ta” và “ông ấy” cho đến “hắn”, “y”, “va”, “chàng” v.v… đều chỉ ngôi thứ ba số ít giống đực, nhưng nó khác hẳn nhau ở cách nhìn nhận con người, nó không thể đồng nghĩa với “he”, “him”, “his” như trong tiếng Anh. Nói điều này, vì tôi thấy các trang báo lớn như BBC, RFA, VoA hay sử dụng chữ “anh ta”, “ông ta” dù đang nói về người mà bài viết có thiện cảm hay bênh vực

Tên nước và cái máng lợn ăn sứt mẻ của ông lão đánh cá

Posted on


Từ: Nguyễn Tường Thụy Blog
Như vậy, cuối cùng thì cái gọi là Quốc hội Việt Nam vẫn quyết định không thay đổi tên nước, vẫn là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Vấn đề này, cuối cùng thì nói theo cách nói dân gian “mèo vẫn hoàn mèo” hoặc nói cách khác là lại “trở về cái máng lợn ăn sứt mẻ” trong câu chuyện Người đánh cá và con cá vàng.

Cái tên

Thông thường, theo Từ điển Tiếng Việt, “tên” ngoài các nghĩa khác thì có một nghĩa là “Từ hoặc nhóm từ dùng để chỉ một cá nhân, cá thể, phân biệt với những cá nhân, cá thể khác cùng loại”. Tên nước thuộc loại này, nghĩa là từ hoặc nhóm từ chỉ một đất nước để phân biệt với các nước còn lại.

Nếu như cái tên người, thường người đó không được chủ động đặt tên và cái tên được đặt khi còn nhỏ, với mong muốn của bố mẹ, của người lớn cho đứa bé những điều tốt đẹp. Thế nên, khi lớn lên nhỡ có không đẹp, không tốt như cái tên, thì cũng đành chấp nhận. Chẳng hạn, có thể đặt tên Bạch Tuyết cho một cô gái mà khi lớn lên thì da đen nhẻm. Hoặc đặt tên Dũng cho một cậu bé mà khi lớn lên lại nói lời trước, nuốt lời sau, chẳng thấy dũng chút nào. Có người mang tên là Minh Triết mà chẳng thấy “minh” cũng không thấy “triết” ở đâu, thậm chí cứ mở mồm là làm trò cười cho thiên hạ. Có sao đâu, thay đổi cái tên người không phải đơn giản và dễ dàng.

Thế nhưng, để phân biệt rõ hơn từng con người cụ thể, người ta thường kèm theo cái tên đó chức danh, nghề nghiệp hoặc đặc điểm cá nhân. Chẳng hạn, Giáo sư Ngô Bảo Châu, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, rồi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Dũng Râu lẩu dê, Hoàn Béo bia hơi, Chó Chị Dậu, Minh Râu Lẩu Dê…

Và tên nước cũng tương tự. Thông thường tên nước được đặt bằng một cụm từ nào đó để chỉ chế độ chính trị, xã hội của đất nước đó kèm với cái tên gốc ít thay đổi. Do chế độ chính trị xã hội có thể thay đổi, nên tên nước rất có thể đổi thay theo từng thời kỳ phát triển khác nhau. Chẳng hạn, Vương quốc Campuchia đã thay đổi tên nước ba lần trong vòng có 14 năm. Từ Cộng hòa Nhân Dân Campuchia, rồi Nhà nước Campuchia và bây giờ là Vương quốc Campuchia.

Thế nên, việc thay đổi tên nước, thường người ta phải căn cứ vào chế độ chính trị và bản chất xã hội cụ thể của đất nước đó tại thời kỳ đó. Việt Nam, cũng từ cái tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi thành Cộng Hòa XHCN Việt Nam. Nghĩa là nước Việt Nam với chế độ Cộng hòa XHCN.

Cụm từ Dân chủ, Cộng hòa là thông thường, phổ thông, có thể ở những mức, những trình độ khác nhau nhưng còn có thể hình dung ra để mà đặt tên. Riêng cái Xã hội Chủ nghĩa là một trạng thái hết sức mơ hồ và ảo tưởng. Ảo tưởng đến mức, gần cả hai phần ba thế kỷ, người dân Việt Nam được phát động đủ mọi cuộc cách mạng XHCN, phong trào XHCN, xây dựng con người XHCN, tự hào với chế độ XHCN… Thậm chí ngay cả người dân còn buộc phải “Yêu nước là yêu CNXH”, chùa chiền còn xác định là “Đạo pháp – Dân tộc – CNXH” hẳn hoi. Thế mà đến khi hỏi cái CNXH nó là gì, mặt mũi nó ra sao? Ngay cả ông trùm cộng sản là Tổng bí thư cũng đều tá hỏa tam tinh thú nhận là không biết nó thế nào, mà chỉ là “sẽ dần dần sáng tỏ”. Sáng tỏ đâu chẳng thấy, chỉ thấy càng ngày người ta càng sáng ra rằng đó là cái tranh vẽ thật đẹp, càng ngày mưa gió càng bóc đi những mảng sơn phết lên đó lòi ra sự ảo tưởng và vô vọng, không có thật.

Thế thì, khi gắn tên nước với một trạng thái không có thật, ảo tưởng vô vọng, người ta nghĩ gì và giải thích ra sao? Các nhà “ný nuận” và lập pháp ra sức bảo vệ cái không ai không thấy là vô lý đó một cách rất hài hước nhưng rất quyết liệt. Hài nhất là những lý luận, nghe rất cùn và rất… ngây thơ. Họ không hề sợ tiết lộ bí mật quốc gia là trình độ cùn của các ông nghị nhà ta hết sức cao vời.

Tôi lại nhớ câu chuyện cách đây 4 năm. Một sĩ quan An ninh khá cao cấp mời tôi đến một quán café khi để tranh luận một số vấn đề nhằm khai hóa cho tôi. Câu chuyện khá dài và nhiều chi tiết, trong đó có một chi tiết như sau:

Tôi nói: – Ngay cả cái tên nước là Cộng hòa XHCN là sự mạo danh, không chính đáng, ở ta đã là CNXH hay chưa?

– Bây giờ VN chưa phải là CNXH, nhưng sẽ tiến đến CNXH, đó là mục tiêu sẽ hướng đến nên đặt tên nước ghi như vậy là đúng chứ sao lại sai.

– Nếu bây giờ một cậu bé phấn đấu để sau này làm Thủ tướng, mục đích của nó rất rõ ràng nhưng nó đang là học sinh, vậy nó có thể in danh thiếp là “Thủ tướng nước Việt Nam Trần Văn Quai” để giao dịch với mọi người được không?

– Như thế thì không được, anh đang là học sinh, là công nhân hay nông dân thì chỉ ghi đúng như vậy thôi chứ, chắc gì anh ta đã làm được thủ tướng.

– Nhưng mục đích, mục tiêu của nó là sẽ làm thủ tướng, cũng như Việt Nam có mục tiêu là CNXH, sao nước ta chưa đến CNXH lại ghi là CNXH được mà nó lại không được ghi danh thiếp là Thủ tướng? Thôi, cứ cho là có thể nó không được làm thủ tướng đi, vì nó khó, nhưng chắc chắn nó sẽ làm được điều này, là nó sẽ chết. Vậy danh thiếp nó có thể ghi là “Hồn ma Trần Văn Quai” để đi giao dịch được không?

Anh ta bối rồi rồi im lặng.

Ngụy biện… cùn của các ông nghị

Hôm nay, nghe các đại biểu của dân lại tiếp tục giọng điệu như anh sĩ quan an ninh kia cho nhân dân cả nước, nghe mà oải.

Ông Phan Trung Lý trình bày trước Quốc hội rằng thì là “việc giữ nguyên tên nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm tiếp tục khẳng định mục tiêu, con đường xây dựng và phát triển đất nước lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm tính ổn định, tránh việc phải thay đổi về quốc huy, con dấu, quốc hiệu trên các văn bản, giấy tờ. Hơn nữa, trải qua 37 năm, tên gọi này đã trở nên quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế”. Còn Thượng tướng Lê Hữu Đức, ĐBQH Nguyễn Bá Thuyền, Đặng Đình Luyến, Lê Đắc Lâm, Nguyễn Xuân Tỷ, Huỳnh Văn Tí… cũng dứt khoát quan điểm: “Không đổi tên nước”. Bởi một mặt người dân, tổ chức quốc tế, bạn bè thế giới đã quá quen thuộc với quốc hiệu nước ta; hàng triệu, hàng triệu người dân với biết bao thế hệ đã và đang tự hào với tên nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Mặt khác, nếu đổi tên nước như một số đề xuất thì vô cùng lãng phí, tốn kém mà không mang lại ích lợi gì cho nhân dân”.

Nghe những cách giải thích này, người ta có cảm giác họ đang coi nhân dân Việt Nam như đàn bò, bảo sao nghe vậy, chỉ đằng nào thì đi đằng đó?

Nếu các ông nghị cho rằng cái tên nước hiện nay “người dân, tổ chức quốc tế, bạn bè thế giới đã quá quen thuộc với quốc hiệu nước ta; hàng triệu, hàng triệu người dân với biết bao thế hệ đã và đang tự hào với tên nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” thì tự các ông ấy đã vả vào mồm “đảng ta” đã chủ trương thay đổi tên nước từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành CHXHCNVN vào năm 1976. Chỉ vì cái tên đó còn nổi tiếng hơn bây giờ là cái chắc. Khi đó Việt Nam vừa mới “đánh thắng hai đế quốc to” vừa mới “lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu”, đến mức “người nước ngoài mơ rằng “sau một đêm ngủ dậy được trở thành người Việt Nam”… chứ đâu phải như bây giờ nghe nói đến Việt Nam chỉ nghe nói đến nghèo đói, tham nhũng và suy thoái, tệ nạn.

Nếu các ông nghị cho rằng “nếu đổi tên nước như một số đề xuất thì vô cùng lãng phí, tốn kém mà không mang lại ích lợi gì cho nhân dân”. Vậy thì sao các ông không nói thật to, thật rõ cho dân nhờ khi Quốc hội giơ tay để biểu quyết mở rộng Thủ đô.

Sao các ông không gào lên thật lớn khi nhà nước chi hàng ngàn tỷ đồng vào Đại lễ Ngàn năm Thăng Long mà đến giờ chưa ai biết con số tổng kết là bao nhiêu, chỉ biết là rất lớn?

Sao các ông không kêu to lên, khi đảng ta chủ trương đập phá cả Hội trường Ba Đình mặc dù đã có nhiều tiếng nói can ngăn mà mấy ông nghị vẫn câm như hến?

Việc đổi tên nước có tốn kém bằng “Chủ trương lớn của Đảng” ở Bauxite Tây Nguyên hoặc Dung Quất hay không? Sao các ông nghị sợ tốn kém tiền dân khi đó trốn đâu mất dạng mà không lên tiếng ngăn cản?

Thực ra, tất cả chỉ là ngụy biện, một sự ngụy biện trơ trẽn và rất… cùn. Thưa các ông nghị.

Tôi không khâm phục lý luận của các vị “đại biểu nhân dân”. Nhưng tôi khâm phục sự cùn và trơ trẽn, nói không hề biết ngượng đó của quý vị.

Thực chất

Thực ra, điều cốt yếu để cuối cùng, ván bài sửa hiến pháp lại trở về “cái máng lợn ăn sứt mẻ” chính là chỗ này: “tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đúng. Song việc chọn tên nước là vấn đề nhạy cảm, trong đó quan trọng nhất là phải tránh sự xuyên tạc. Vì thế cần giữ nguyên tên nước là CHXHCN Việt Nam”. – Cao Sỹ Kiêm, Đại biểu Thái Bình.

Có một điều mà gần dây đảng và nhà nước hay lo sợ bị xuyên tạc, song ai xuyên tạc nổi nếu có chính nghĩa trong tay? Câu của cổ nhân dạy rằng “cây ngay không sợ chết đứng” là vậy, chưa chi đã sợ chết đứng, chỉ vì tự biết mình không ngay mà thôi.

Thực ra, vở kịch sửa đổi Hiến pháp vừa qua, có mục đích mà nhà báo Huy Đức đã nhìn ra và đặt câu hỏi từ rất sớm là “Sửa Hiến pháp hay xây lô cốt”? Có xây xong cái lô cốt Chủ nghiã Xã hội, thì đó mới là thành trì cho thể chế “Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện”. Nếu không có mô hình quái gở đó, lấy đâu mô hình cho việc một đảng tự nhiên nhảy lên đứng trên đầu, trên cổ dân tộc để tự khẳng định mình là quang vinh, là trong sạch vững mạnh và chỉ có mình mới được lãnh đạo đất nước, dân tộc này, chỉ có mình mới đủ khả năng và tài đức lãnh đạo, dù trong đó có cả bầy sâu.

Nhưng, lòng dân thay đổi, người dân biết mở miệng, khi đó vở kịch có nguy cơ bị cháy.

Khi vở kịch đã có nguy cơ bị cháy, người ta cố bằng mọi cách đẩy nó về “cái máng lợn ăn sứt mẻ”.

Điều đó cũng không có gì lạ. Nhưng ai mà đoán biết, cái lô cốt đó tồn tại được bao lâu nữa?

Ngày 28/5/2013

Luận sự đời từ sự kiện Bá Thanh

Posted on


Trước đây, tôi viết bài “Im lặng là vàng”, một người bạn phản hồi cho rằng đây là vấn đề “chọn thái độ sống” của mỗi người. Đôi khi, thực tế cuộc sống khá phũ phàng khiến người ta dễ đau lòng, nản chí, nhất là những lúc công việc không thuận lợi, các mối quan hệ cá nhân với mọi người xung quanh có lúc không như ý, môi trường sống thay đổi vv… khiến ta bị ảnh hưởng tâm lý, thái độ lựa chọn có khi cũng dao động theo.

Vấn đề xã hội và con người thật rộng lớn và phức tạp. Cải tạo môi trường sống là trách nhiệm của mỗi người, dĩ nhiên vai trò kiến tạo của các nhà lãnh đạo và nhà nước là sống còn. Nhìn qua Thái Lan, ngay từ khi còn chiến dịch tranh cử của Thủ tướng nữ đầu tiên của nước Thái, bà Yingluck Shinawatra, tạm gác các chuyện xung quanh để lấy khẩu hiệu thu hút người dân tham gia bỏ phiếu cho bà đại ý là nếu bạn cho rằng hành động vì quê hương đất nước hay dân tộc, tổ quốc là cao xa, khó hiểu thì hãy hành động vì chính cuộc sống của bản thân mình và tương lai của con cháu chúng ta !

Khi tổ quốc lâm nguy, “thất phu” hữu trách, nước mất thì nhà tan! Liệu im lặng cúi đầu có được yên thân không? Ngày xưa tới giờ, mỗi khi đất nước bị xâm lược hay nguy cơ loạn lạc, nội công – ngoại kích, đều xuất hiện các nhân tài ra giúp nước ! Thật đáng thương cho số phận của những dân tộc không biết tự quyết định số phận của mình ! Một ông Thủ tướng Rwanda ở Châu Phi từng nói trên báo chí “ Đất nước chúng tôi có 5 triệu người tỵ nạn và chạy loạn ra nước ngoài do xung đột sắc tộc giết chết cả triệu người, còn 2 triệu người thì đang mòn mỏi chết vì các bệnh tật như HIV và nghèo đói triền miên …”

Các quốc gia Châu Phi nghèo khổ luôn chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, chính sách thuộc địa, xung đột sắc tộc, tôn giáo, và nhiều người phương Tây tốt bụng cũng không biết làm thế nào để cứu vãn sự thế tại các quốc gia này! Chắc chắn một điều là khi ai cũng yên lặng cúi đầu, kẻ ác và tội ác sẽ lên tiếng !!! Chúng ta thử hình dung, một xã hội ai cũng vô cảm, không màng thế sự xung quanh … sẽ ra sao ngày sau ?

Václav Havel là tác giả của kết luận rằng Liên Xô và Đông Âu tan rã không phải bởi vì lý do kinh tế, mà vì sự tha hóa cùng cực của thứ đạo đức lấy dối trá làm “Kinh thánh”! Trong bài viết “Sức mạnh của sống trong sự thật” tác giả phản ánh cái thế giới thiếu nhất hiện nay không phải là dầu mỏ, không phải là nước sạch, cũng không phải là lương thực mà là một ban lãnh đạo có đức hạnh. Bằng cách cam kết với sự thật – sự thật khoa học, sự thật đạo đức và sự thật cá nhân – xã hội có thể vượt qua được nhiều cuộc khủng hoảng về nghèo đói, bệnh tật, thiếu ăn và bất ổn mà chúng ta đang đối mặt. Nhưng quyền lực lại căm ghét sự thật và tấn công nó một cách không thương xót. Havel là một nhà lãnh đạo chủ chốt của phong trào cách mạng dẫn tới nền tự do ở Đông Âu và sự cáo chung của Liên Xô. Những vở kịch, những bài tiểu luận và thư từ của Havel đã mô tả cuộc đấu tranh về mặt đạo đức cho một đời sống lương thiện dưới chế độ độc tài ở Đông Âu. Để sống trong sự thật, ông đã phải hi sinh tất cả kể cả tù đầy như ông nói, trung thực với chính mình và trung thực như một người anh hùng trước bạo quyền áp bức xã hội và đè bẹp quyền tự do của hàng trăm triệu người.

Ngẫm suy, dĩ nhiên, điều này không khuyến khích chúng ta hành động mù quáng hay bất chấp hiểm nguy đến bản thân … vì ta còn phải thương ta nữa chứ !!! Do vậy, đường đời thật khó ! Ai cũng có một cuộc đời để yêu thương và chọn thái độ sống cho riêng mình. Triết lý của Nguyễn Công Trứ chắc vẫn còn chỗ đắc dụng : “Ai say, ai tỉnh, ai thua được. Ta mặc ta mà ai mặc ai”. Nhớ lời các cụ ta xưa để mà ngẫm về thời cuộc : “Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích” – cái đầy gọi cái vơi, võng xuống thì được làm cho đầy trở lại.

Cuộc sống đúng là bất phương trình chứ không phải phương trình. Có người bảo cái nước mình nó thế nên các nghịch lý cứ ngang nhiên tồn tại. Theo tôi hiểu, sự sống, trong bất cứ biểu hiện nào của nó, cũng có nghịch lý, những nghịch lý ấy có những bản chất và hình thức khác nhau, có nghịch lý tự nhiên và có nghịch lý nhân tạo, có nghịch lý tất yếu và có nghịch lý ngẫu nhiên, có nghịch lý bùng phát và có nghịch lý tiềm ẩn, có nghịch lý thực sự và có nghịch lý ngụy tạo, có nghịch lý đối kháng và có nghịch lý không đối kháng, có nghịch lý phát triển và có nghịch lý kìm hãm, có nghịch lý sinh thành và có nghịch lý hủy diệt vv… Trong các loại nghịch lý, thì có lẽ loại nghịch lý nhân tạo chứa đựng nhiều nghịch lý đối kháng, kìm hãm và hủy diệt nhất. Từng nghịch lý không nẩy sinh và biến hóa đơn độc, mà luôn luôn nằm trong chuỗi nghịch lý, hoặc gọi là hệ thống nghịch lý, tương tác với các nghịch lý khác và chịu sự chi phối của hệ thống nghịch lý. Trong từng trường hợp, cần phát hiện, nhận diện, phân tích và xử lý đúng từng nghịch lý trong chuỗi nghịch lý. Chân lý phổ quát là rất cụ thể, và lịch sử chỉ may đo, chứ không may sẵn.

Mấy năm qua, một số tờ báo giấy và báo điện tử đăng tải về những thông tin liên quan đến các quyết định cụ thể, mạnh mẽ, rất hợp lòng dân của ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng luôn quan tâm đến đời sống nhân dân, an sinh xã hội, quy hoạch quản lý đô thị, công khai tuyển dụng người tài, và phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Đấy là thái độ sống của một người lãnh đạo trong xã hội ta hiện nay. Ông tuyên bố và đang làm thực sự, để Đà Nẵng trở thành “thành phố đáng sống, thành phố du lịch”, không phải chỉ hô khẩu hiệu.

Nhưng cũng mới đây, các phương tiện truyền thông lại đưa tin và không ít bình phẩm về chuyện Thanh tra Chính phủ bỗng nhiên cho bung ra mấy chuyện lùm xùm về đất đai, dự án ở Đà Nẵng. Có những chuyện tưởng như đã xác định ‘ít tầm quan trọng’ đã gác lại hoặc lướt qua rồi.

Thực tế cuộc sống, dạy cho tôi hiểu viết về cá nhân một con người nên cẩn trọng, nhất là dưới chế độ ta, mà đặc biệt trong tình hình hiện nay. Viết đúng, cho dù là ca ngợi, nhưng có khi hại người mình khen đấy.

Theo kinh nghiệm của một vị lãnh đạo lão thành có uy tín, công việc lãnh đạo chủ yếu là định hướng, phương pháp tư duy và tổ chức hành động. Lãnh đạo giỏi cần tư chất thông minh, được đào tạo bài bản, có thời gian dài tích lũy qua công tác nghiên cứu, chịu khó học hỏi trong thực tế, biết lắng nghe các ý kiến đa chiều, sẵn sàng đối thoại vv…

Tôi không quen biết ông Bá Thanh nhưng có lần nghe ông Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại không biết vì nguyên nhân luân chuyển cán bộ hay “rung chuyển cán bộ”, khi ông Bá Thanh còn đang làm Chủ tịch thành phố, Trung uơng dự kiến điều ông Bá Thanh ra làm Phó ở một Ban của Trung ương. Ông Thanh vào Sài Gòn tham vấn ông Sáu Dân được khuyên đại ý như sau:”Làm quản lý không ai tránh khỏi khuyết điểm. Có năng lực, có ý chí thì cuơng quyết ở lại Đà Nẵng đưa thành phố đi lên để chứng minh khẳng định vai trò, vị thế của mình, còn ra Trung ương làm Phó ở cái Ban nào đó thì tốt nhất mang theo cái vợt tennít để làm “bầu bạn” cho hết thời gian …”.

Con mắt tinh đời, biết nhìn người, và thái độ sống: Đời thiếu thăng trầm ta dễ dàng an thân / Đời vắng khổ sầu khó mà biết cảm thông / Đời không trải nghiệm sao có thể trưởng thành? Tôi nghiệm một điều từ trong thực tế đời thường và quan trường của ông Bá Thanh rất đáng suy ngẫm! Bá Thanh lần đầu đuợc bầu vào thành ủy lúc mới khoảng 25 tuổi, nhận Quyết định về làm chủ nhiệm Hợp tác xã mà ngày nhận bàn giao việc qui định đúng ngày chủ nhật, nhưng Bá Thanh vẫn đạp xe đến nơi (miền núi) đúng ngày giờ. Trong cuộc sống, Bá Thanh rất trân trọng đồng chí thường vụ thành ủy, trưởng ban dân vận là người dân tộc, chính nhờ ông mà Bá Thanh vẫn còn đuợc làm việc ở Đà Nẵng. Bởi vì khi Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam thì Bá Thanh làm Chủ tịch, nhưng khi trực thuộc Trung ương, thì người ta xét lý lịch Bá Thanh học đại học nông nghiệp Hà Nội, nếu tiếp tục làm Chủ tịch thành phố (công nghiệp-dịch vụ) là không phù hợp với cái được đào tạo nông nghiệp? Với thái độ sống rõ ràng, sòng phẳng, ông trưởng ban dân vận, người dân tộc phản ứng “Sao kỳ vậy, cũng Đà Nẵng thuộc tỉnh thì Bá Thanh làm được. Nhưng trực thuộc Trung ương thì cũng Bá Thanh mà làm không được?”.
Cũng chính ông trưởng ban dân vận, đã giúp đỡ Bá Thanh rất nhiều trong công việc thuyết phục giải tỏa nhà dân. Có Bà Mẹ không chịu di dời, cũng chính ông đến tận nhà nói với bà: “Tôi bệnh ung thư, sống không mấy ngày, trước khi chết tôi khuyên Má hãy chấp hành, Bá Thanh làm đúng chớ không sai đâu”. Bà mẹ cảm động làm theo và hơn tháng sau ông ấy qua đời!.

Việc cưỡng chế một ông, hai thời kỳ khác mà Bá Thanh làm cũng êm ru, được các con của cụ và dân đồng tình. Đó là lý do vì sao Đà Nẵng giải tỏa nhanh và qui hoạch thành phố đuợc bài bản hơn các nơi khác. (Khách quan đánh giá quy hoạch chống ngập vẫn còn khiếm khuyết). Chính thái độ sống của Bá Thanh biết dựa vào dân và có nhiều người tốt trong nội bộ ủng hộ nên đã thành công! Bá Thanh không những chỉ nuôi mẹ bị bệnh nhờ bác sĩ Nguyễn Tài Thu khám và trị cho mẹ mình mà còn quan tâm chữa trị cho các vị lão thành cách mạng, các bà mẹ khác như thế là có hiếu, có nghĩa và rất khôn ngoan.

Bá Thanh – Đà Nẵng có nhiều cái hay, báo chí nói nhiều rồi và cả cái “chưa hay” mà người ta cũng lan truyền nhưng không biết thực hư! Thời buổi nầy như vậy là chuyện thường, tốt xấu gì cũng sống chung như dân Đồng bằng sông Cửu Long biết “sống chung với lũ” vậy.

Nhiều người dân, đặc biệt ở Đà Nẵng vẫn rất kỳ vọng vào Bá Thanh là một trong những vị lãnh đạo hiếm của chế độ ta hiện nay. Chính thái độ sống đã tạo ra con người Bá Thanh còn thành bại, tốt xấu là do “Trời”! Nhưng nay Bá Thanh đã qua cái tuổi “vàng”, chỉ có hy vọng còn phút 89! Thế mới biết nói và làm như ông Bí thư Đà Nẵng khó lắm thay! Mấy người bạn thân của tôi đang sống ở Hà Nội, thủ đô trái tim và trung tâm nọ kia của cả nước, chỉ mong ông Bí thư (hay ông Chủ tịch thành phố ) có được những lời nói và hành động như ông Bá Thanh Bí thư Đà Nẵng thôi!

Chỉ có điều, qua những diễn tiến và thăng trầm thời cuộc, nhất là sau Hội nghị Trung ương 7 mới rồi, Bá Thanh có nhớ lời ông sáu Dân gợi mở từ dạo đó không? – “ … còn ra Trung ương làm Phó ở cái Ban nào đó thì tốt nhất mang theo cái vợt tennít để làm “bầu bạn” cho hết thời gian … – Bây giờ, dù Đà Nẵng có muốn ông tiếp tục ‘vì thành phố bên sông Hàn’, hoặc ông muón tiếp tụ ‘vì Đà Nẵng thân yêu’, thì cũng đã quá muộn và không còn cơ hội nữa!

Tô Văn Trường

(Blog Bùi Văn Bồng)

Tế anh Bá Thanh

Posted on Updated on


Tác giả: Nhật Nguyên
TRƯỚC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 7

Bất ngờ gặp lại Bá Thanh
Tuấn Anh* thỏ thẻ: “Hà thành vui không?”
Bá Thanh bày tỏ nỗi lòng:
“Ở đây phức tạp hơn trong kia nhiều
Nhưng giờ tau đã có chiêu
Dễ dàng trụ lại trong triều thật lâu”
Tuấn Anh mới phán một câu:
“Chuyện này cũng chẳng dễ đâu mi nờ
Ngay xưa ngồi ghế bí thơ
Sông Hàn Đà Nẵng đôi bờ của mi
Giờ ra giữa chốn kinh kì
Tàng long ngọa hổ, thách mi làm càn”
Bá Thanh bảo: “Nếu có gan
Trời này, đất ấy trong bàn tay ta
Thăng Long, Hà Nội, Đại La
Một mai cũng sẽ như Đà Nẵng thôi
Phần mi một chú đồi mồi
Còn tau tất cả đất trời thủ đô”…
Tuấn Anh nghe vậy cười ồ:
“Rứa là không hiểu Thủ đô Thanh à
Thăng Long, Hà Nội, Đại La
Trận đồ bát quái thiên la… khó lường
Nói thật há miệng mắc xương
Cái xương biện chứng – tình thương – nhân vèn (văn)
Rối nội bộ – thêm khó khăn
Đố mi vừa nói vừa làm được đo”
Thanh rằng: tau chẳng có lo…

(*): Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL, cựu Chủ tịch Đà Nẵng Hoàng Tuấn Anh
SAU HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 7

Tuấn anh gặp lại Bá Thanh:
“Bê Xẻ Tê trượt mi đành răng đây”
Bá Thanh buồn bả giải bày:
“Không ngờ kết cục thế này, Anh ơi!
Tưởng rằng phía trước sáng ngời
Giờ đây chán thiệt ngồi chơi đuổi gà
Nghe lời Trọng Lú mà ra
Nếu tau biết rứa tà tà ở quê
Bây chừ không có đường về
Lưỡng nan tiến thoái mô tê ai ngờ
Đau như bò đá mi nờ
Theo anh X hay theo cờ Đảng ta
Bây chừ tau gỡ không ra
Ở ngoài mi sáng, có pha mô bày.”
Tuấn Anh mặt mũi hây hây:
“Ngày xưa mi có thế này đâu Thanh
Ngày xưa mi giọng đàn anh
Ăn trên ngồi trước, Đà thành sợ mi
Mi coi tau có ra gì
Tau làm chủ tịch, chuyện chi cũng thò
Ngày xưa có miếng thơm tho
Đất đai, dự án tau mò mi xơi
Bây chừ nói chuyện khơi khơi
Đồng hương tình nghĩa đôi lời với mi:
Mi coi Phúc hói hắn đi
Cứ theo anh X chuyện chi cũng thành
Mi đừng dại dột nổi danh
Cáo quan từ chức nó hành mi ngay
Án ba nghìn tỷ còn đây
Nằm im ngậm miệng chờ ngày yên thân
Cớ chi mi dám lấn sân
Hô to hốt hết mấy ngân hàng kìa
Chim lồng cá chậu lia thia
Phận mình phải biết để chia lộc trời.”
Tuấn Anh vừa mới dứt lời
Bá Thanh ngẩn mặt lên trời mà ca:
“Chiều chiều ra ngắm Sơn Trà
Cha ơi, Mẹ hỡi! con ra thế này.”

Theo Blog Phạm Viết Đào

CÁI LÝ TRUNG HOA TỪ CÁI LOA TRUNG…LÝ!

Posted on


http://to-hai.blogspot.com/
Vẫn biết rằng cái tên Trung Lý họ Phan này chỉ là một cái “loa” có chức vụ khá kêu và dải dài dài: chủ nhiệm ủy ban pháp luật Quốc Hội, Ủy viên ủy ban Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp nhưng “ranh tiếng” thì chỉ mới nổi bật sau khi tuyên bố cứ như ta đây có quyền lắm: “Không có khu vực cấm trong việc góp ý sửa đổi HP”!

Thế là ào ào lên bao ý kiến yêu cầu sửa cái nọ, bỏ cái kia.
Có cả một đoàn nhân sỹ trí thức lên gặp quý ủy ban DTSĐHP để trao tận tay một dự thảo hiến pháp khác! Hình như… “có chỉ đạo”, ông Trung Lý này đã tránh né ngay trong buổi gặp mặt này mà nhường chỗ cho một ông ít tên tuổi hơn: Lê Minh Thông (nhưng không thông minh cho lắm!).
Và quả là ông Tổng, sau đó đã thẳng thừng chỉ mặt (nhưng chưa đặt tên) những phần tử đòi hỏi nhiều điều mà do ông Lý nói “không có vùng cấm” là “thoái hóa”, là “cần phải xử lý” thì ông Lý mang theo tai tiếng là ông đã “cò mồi” cho Đảng để phát hiện quả tang “ai là kẻ ra mặt chống Đảng” trong lần sinh hoạt chính trị cực kỳ quan trọng này! Và ông chủ nhiệm đã… im thin thít…

Cho đến hôm 20/5 vừa qua, trước ba mặt quan trên và nhân dân cả nước, ông Phan trung Lý đã như để “tạ tội” với trên, không phải nhiệm vụ, và cũng chưa đúng lúc, đã phát ra những kết luận như chốt lại mọi sự mong ước chờ đợi của nhiều người. KHÔNG CÓ GÌ ĐỔI THAY CẢ! MỌI SỰ ĐÂU VẪN NGUYÊN ĐÓ!

Ông nói: “ Điều 4 là cần thiết! là khẳng định tính lịch sử, tính tất yếu khách quan” và …“đề nghị Quốc Hội không đưa vấn đề ban hành luật về Đảng vào dự thảo Hiến Pháp”!!!

Riêng về tên nước thì …sau khi tham khảo 24.000.000 (?!) lượt ý kiến (không phải 40.000.000 chỉ riêng Bình Dương như trước nữa), ông đã thay mặt “nguyện vọng tha thiết của nhân dân” mà yêu cầu giữ nguyên cái tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam duy nhất và độc đáo nhất vô song trên trái đất này! Lý do: Tiếp tục khẳng định mục tiêu, con đường xây dựng và phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội!!!

Kha kha…
Buồn cười và buồn… nôn nhất là ủy ban DTSĐHP của ông còn đưa ra ý kiến yêu cầu các chức danh Chủ tịch nước, thủ tướng, chánh án tòa án ND tối cao phải tuyên thệ khi nhậm chức! Và trong nội dung yêu cầu sẽ “thề cá trê chui ống” ông lại quên béng đi “trung thành với ….Đảng” mà chỉ có Tổ Quốc với Nhân dân thôi! Thế có nguy hiểm cho các ông Trung Lý, Chung Lỳ hay “Chung ly” trong BDTSĐHP của các ông không cơ chứ!

Chả trách báo lề dân có bài đã viết: “Kỳ họp quốc hội lần 5 coi như…kết thúc”! Mà chưa họp bàn gì những vấn đề cả nước quan tâm thì ông Lý họ Phan Trung đã thay mặt đoảng gõ 3 tiếng búa gỗ xuống bàn để tuyên bố: ”Mọi ý kiến, ý cỏ …trái với ý của các vua trên coi như ….đồ bỏ! Không gô cổ từng thằng dám chạm đến “vùng cấm” (như yêu cầu bỏ điều 4), là rân chủ quá lắm rồi đó!”

Mọi vấn đề còn lại như thuế má, gia tăng, gia giảm …phòng chống cháy, khí hậu, khí tiền, khủng bố, khủng mẹ ….thì các vị đại biểu do đảng cơ cấu cứ gắng ngồi nghe! Đừng có… ngủ gật kẻo phim ảnh thời đại này nó nhậy bén chiềng làng tức khắc lên mạng đấy!

Riêng mình, tuy mình đã hoàn toàn chẳng có một li ông cụ nào tin tưởng sẽ chẳng có một tí tì ti thay đổi nào, khi vẫn tồn tại cái thứ quốc hội do cái đảng này dựng lên cả … từ lâu rồi. Nhưng chưa lần nào mình mất thời giờ theo dõi cuộc họp lần 5 của khóa 13 (số rất xấu) như lần này!

Lý do:
1- Có qúa nhiều người lao vào việc sửa đổi hiến pháp mà mình quen biết thậm chí rất quí mến, kính trọng…

2–Trước đó có vài ngày cái ủy ban thường vụ, mà có người gọi là “cái đầu của quốc hội mẹ” đã họp trước và thiệt lạ! từ ông chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đến các chủ nhiệm Ban này, Ban nọ đều vạch toẹt ra mọi sự bê bối của các cơ quan hành pháp …đặc biệt là đều tập trung vào sự báo cáo láo bằng những con số nay thế này, mai thế khác hoặc ông nói chằng bà nói chuộc, để bà phó Doan phải kêu toáng lên là “Tình hình gay go (hay nguy ngập?) lắm rồi các đồng chí ạ!” Cứ như sắp sửa có chuyện “đảo chính mềm” đến nơi rồi vậy!

3–Có qúa nhiều ý kiến xác đáng dẫn đến việc những nhà cầm quyền, dù không muốn cũng phải “kê lại”, hoặc che chắn bớt những điều mà các bậc tiền nhân của họ đã không mắc phải, đặc biệt là chuyện các nhóm lợi ích, những bầy sâu, đang đục khoét đất nước này…đã được chính các vị thượng hoàng, thừa tướng, công thần, nêu ra công khai ngay trong các bản báo cáo của anh Phúc, anh Đảm ở buổi khai mạc ….

Vậy mà….ngay buổi khai mạc, anh Ly sắc đã dội một thùng nước lạnh vào mọi mong chờ của khá nhiều người bằng những lời phát biểu như kết luận chắc nịch về những gì mà cái Ban của anh đã nghiên cứu nghiêm túc! Nói dài dòng ra cho có vẻ ný nuận nhưng sự thật lôm la ló nà thế lày:

KHÔNG CÓ GÌ THAY ĐỔI! KHÔNG CÓ GÌ NHÂN NHƯỢNG TIẾP TỤC ĐI LÊN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA! CÁC ĐẠI BIỂU RÕ CHƯA ?

Để anh Lý và các “cốp” của anh suy ngẫm, mình xin đặt vài câu hỏi. Các anh hãy trả lời cho chính các anh đi vì mình chắc rằng có cho “Mao đài” các anh cũng chẳng dám trả lời công khai cho thiên hạ vì trả lời tức là phải nói lên SỰ THẬT! Mà khi đã nói đến SỰ THẬT thì 100% các anh, chả anh nào dám giơ nắm đấm lên “Xin thề! xin thề! Xin thề!”

1- Có thật là từ khi Đổi Mới đến giờ các anh đã làm Xã hội chủ nghĩa không? hay làm cái chủ nghĩa “không tên”, gì gì đó??

2- Trả lại nhà máy, xí nghiệp, phương tiện sản xuất, cho buôn bán hà rầm gấp vạn lần thời kỳ “phồn vinh giả tạo” của “Mỹ ngụy” là xã hội chủ nghĩa kiểu gì đây?

3- Có phải những vụ PMU18, Vinashin, Vinalines, Vinacomin…những vụ làm giầu bằng cách lấy tiền dân cho nhau vay để giả vờ kinh doanh tiền là chính, bán đất, bán tài nguyên,…đưa tới xụp đổ hàng 100.000 xí nghiệp vừa qua cũng là xã hội chủ nghĩa ư?

4-Có phải sự phân hóa giầu nghèo đến kinh khủng: Người vứt tiền qua cửa sổ, mặc những chiếc váy, đeo những chiếc dồng hồ, đi xe xịn đến tiền tỷ tỷ… và kẻ cả tuần không có miếng cơm ăn, “có miếng thịt chuột bắt được mà cho vào mồm đã là may mắn rồi” với thông tin và hình ảnh minh chứng đầy rẫy trên báo chí “và cả trên blog TH”… là con đường xã hội chủ nghĩa mà cái đoảng gọi là cộng sản của các anh đang dẫn gần 90 triệu dân Việt đi tới suốt hơn 30 năm qua???

5- Giai cấp công nhân, quanh năm đầu tắt mặt tối, không đủ tiền ăn no 2 bữa, thiếu dinh dưỡng đến ốm o, héo mòn, Tết nhất không sao có tiền về thắp hương trước bàn thờ ông bà ông vải…còn các ông hội đồng quản trị bụng phệ trán hói thì ngồi máy lạnh hưởng lương thưởng cả trăm triệu đồng mỗi tháng! Người nông dân thì suốt đời được mùa mất giá, nuôi tôm cá chỉ để vỗ béo mấy ông “hiệp hội” giầy tây đen bóng loáng, cà vạt sặc sỡ đủ mầu ngồi bàn giấy quanh năm hội thảo mà lương cao ngất trời đố ai biết là bao nhiêu! Chỉ biết anh nào anh nấy đều không biết đi lại bằng gì để thăm ruộng thăm hồ cá nếu không có ô-tô xịn đưa đón tận nơi! Ôi! Chủ nghĩa xã hội là thế sao?

Mình biết rằng có nói ra 100 điều phản khoa học, phản đạo lý, phản dân chủ, phản cả Mác-Lê, lẫn Hồ, đang sờ sờ ra đó nữa cũng chẳng sao “cải tạo” được những con người đang dối trá dân, lừa bịp dân, đang đẻ ra những “con số có cánh” để…. muôn năm giữ ghế…(*).

Nhưng, một lần nữa, mình cứ “liều” đặt hàng cho các vị đại biểu của đảng mấy điều như sau: May ra dân có bớt khổ, may ra có vài thằng to dựa cột hoặc được tiêm thuốc ….chết cho thỏa lòng mong ước của chính mình đây!

Mình bảo đảm vị nào đó mà đề ra những ý kiến mà mình đặt hàng đây sẽ không “bị” gì đâu vì làm sai ý trên nhưng trúng ý các đồng chí 4 tốt đấy!

1-Bổ xung ngay vào mấy chữ Xã Hội Chủ Nghĩa thêm 4 chữ “mang mầu sắc Việt” hoặc “mang dấu ấn Việt Lam”!

2-Ra sức học tập người “bạn cùng lý tưởng” Trung Quốc, đã cùng với các chính phủ nước ngoài bắt giữ 1.631 tên quan tham bỏ chạy và thu về được 1 tỷ 2 USD cho ngân quỹ, ta cũng cho ra công khai vài ba vụ! Được như vụ vợ chồng Bạc Hy Lai hoặc như “siêu bộ trưởng” Lưu Thiết Nam thì càng…lấy lại tinh thần cho dân chúng mạnh hơn! Tốt hơn nữa thì, xử tử vài tên như bên Tầu cho nhân dân khoái cái bụng và có thêm tí tin tưởng các ông cộng sản Việt Nam cũng có chống tham nhũng đấy chứ…

3-Học tập bên ông anh, trong hiến pháp tuyệt đối không ghi rõ ai lãnh đạo toàn diện cũng không nhắc đến 2 cái tên Mác-Lê và gần đây là bỏ luôn cả tên Mao, tên Đặng nữa …Nhưng mà, ở bên trong (hay đằng sau) Đảng vẫn cứ lãnh đạo! Có sao đâu! Nhất là kinh nghiệm “viết và ký kết một đằng làm một nẻo” thì Đảng ta là vô đối mà! Đâu vẫn đấy chứ ai dám ra tranh giành cơ chứ!

Còn làm thế nào để Xã Hội Chủ Nghĩa mang mầu sắc Việt có được cái đời sống tối thiểu, có Ép Đi-Ai như bên Tầu, làm sao để trong có hơn 20 năm mà lại có tiền cho Mỹ vay cả ngàn Tỷ USD, đổ sang Châu Phi hàng trăm tỉ, và gần đây rải tiền sang cả Căm và Lào thì là ….chuyện lâu dài…

Sợ rằng các anh ấy có thừa tiền tỷ USD để cho Mỹ vay, có sức vung tiền qua các nước nhỏ khác lại nảy sinh tư tưởng bành trướng như Tầu thi…bỏ mẹ con cháu chúng em sau này!

Anh Lý kiểu Trung Hoa có dám khơi mào chuyện này ra như chuyện “không có vùng cấm” ngay lần họp quốc hội này không? Bảo đảm không mất lập trường đâu mà khối người ủng hộ đấy!

(*) toàn là lời hay lẽ phải “có thế lào thì” anh Tổng mới phải lói thế lày chứ:
“Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh thắng – thua vì lợi ích vị kỷ của các cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác và chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”

Thu hồi đất: Dự thảo hiến pháp lại “thụt lùi sâu sắc”

Posted on


Phạm Chí Dũng gửi RFA từ Việt Nam
23-5-2013

Khi Chủ nhiệm ủy ban pháp luật quốc hội Phan Trung Lý xuất hiện với bộ mặt căng đầy “vẫn thu hồi đất cho các dự án kinh tế xã hội”, người ta lại có thể nhận ra một sự thụt lùi sâu sắc về mặt tư duy, không khác mấy từ ngữ tương tự mà người Mỹ thường dùng để ám chỉ những quốc gia vi phạm nhân quyền một cách tệ hại.

Vỡ làng!

Với tiêu đề hiếm có trên, Nông nghiệp Việt Nam – một tờ báo “lề phải” nhưng đã có nhiều bài phản biện xã hội sắc sảo, trong số ra ngày 22/5/2013 đã chuyển tải những dòng phóng sự quá đỗi đau xót đến người đọc.

Tam Cường (Tam Nông, Phú Thọ) là một điển hình cho sự “vỡ làng” đau đớn ấy. Người già ở đây bảo cuộc cải cách ruộng đất dù đã trôi qua hơn nửa thế kỷ vẫn còn âm ỉ đau khổ thì nay vấn đề ruộng đất lại gây ra cho Tam Cường những đau khổ, day dứt không kém.

Năm 2008, Cty Cổ phần Hóa dầu và Nhiên liệu sinh học dầu khí lấy đất làm nhà máy cồn nhiên liệu sinh học ở địa bàn 3 xã Cổ Tiết, Văn Lương và Tam Cường với tổng diện tích 51 ha, phần nhiều trong đó là đất hai lúa thuộc diện “bờ xôi, ruộng mật”. Dù nhiều người dân của xã Tam Cường kịch liệt phản đối, yêu cầu chuyển dự án lên đồi rừng tránh lấy đất hai lúa của họ nhưng không được đáp ứng. Người dân yêu cầu chủ đầu tư phải thỏa thuận với dân về giá cả nhưng cũng không được chấp nhận mà chỉ áp đền bù ở mức 15 triệu đồng/sào. Gần 100 hộ dân ở khu 3 của thôn Tự Cường kiên quyết phản đối chuyện lấy đất. Dự án vẫn tiếp tục. Nhiều đoàn thể đến từng nhà dân vận động ký vào biên bản “Hỗ trợ bồi thường tái định cư” mà họ gọi là ký đối soát. Việc ký đối soát được thực hiện cả ngày lẫn đêm.

Lão nông Phạm Công Lưu ở Khu 3 bảo: “Chưa bao giờ quê tôi tan nát như thế này. Trước giặc Pháp đóng ở Gành, các vùng khác theo tề, riêng dân Tam Cường mỗi người hai cây tre góp nhau rào làng kháng chiến đến lúc thắng lợi. Tình yêu Tổ quốc nói đâu xa, từ chính tình yêu con sông, cái suối, gốc đa, giếng làng, yêu bà con chòm xóm. Giờ quê tôi ăn cưới chia hai dãy mâm, bên phản đối bán đất, bên nhận tiền đền bù. Lắm đám cỗ cưới ế sưng vì bà con không thèm đến, đám ma vắng lạnh phải huy động cả đoàn thể đi để cho người chết đỡ tủi. Anh em không nhìn mặt nhau, bố con từ nhau cũng chỉ vì người nhận đền bù, người không chịu. Ông trưởng họ đồng ý bán đất, cả họ từ mặt…”.

Quốc hội?

Cùng với “vỡ làng”, một tan vỡ khác cũng vừa xảy đến, nhưng lần này ứng vào niềm tin đối với những người đại diện cao nhất của Quốc hội.

Trong những ngày đầu của kỳ họp Quốc hội lần thứ 5 khóa XIII vào tháng 5/2013, Ủy ban dự thảo sửa đổi hiến pháp (DTSĐHP) của cơ quan dân cử cao nhất này bất ngờ tung ra một “phán quyết”: việc thu hồi đất để phục vụ các dự án phát triển kinh tế – xã hội là cần thiết.

Ngay trước kỳ họp Quốc hội trên, trong bản dự thảo mới nhất của Luật đất đai sửa đổi, Bộ tài nguyên và môi trường vẫn đưa ra hai phương án về vấn đề thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế xã hội. Phương án thứ nhất giữ nguyên quan điểm thu hồi đất cho các dự án kinh tế, xã hội. Phương án thứ 2 không quy định việc thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế, xã hội nhưng lại chia các dự án vào các nhóm được thu hồi đất vì mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phục vụ an ninh, quốc phòng. Theo đó, các dự án như làm khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô thị mới… do Thủ tướng hoặc Chủ tịch UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư … đều được nhà nước thu hồi đất.

Nhưng lại có nhiều ý kiến lo ngại rằng luật mới như vậy vẫn để ngỏ “cửa” cho những cuộc chạy chọt dự án cho các nhà đầu tư sau này.

Trên tờ báo điện tử Dân Trí, ông Đặng Hùng Võ – nguyên thứ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường, đã một lần nữa vạch rõ: Dự án phát triển kinh tế xã hội là một khái niệm không mạch lạc. Đã gọi là dự án xã hội, hoặc kinh tế – xã hội kết hợp thì thường sẽ thấy được mục đích vì lợi ích công cộng.

Theo ông Võ, chỉ cần tách ra nhóm dự án vì mục đích thuần túy kinh tế; và cần loại bỏ hoàn toàn các dự án kinh tế ra khỏi cơ chế Nhà nước thu hồi đất.

Chuyên gia Đặng Hùng Võ nói thẳng: Phần chúng ta cần chống lại, không chấp nhận là cơ chế Nhà nước thu hồi đất cho lợi ích riêng của nhà đầu tư. Việc Nhà nước có quyền rút quyền lợi, tài sản của người này đưa cho người khác thì xã hội đó thực sự không phải là một xã hội văn minh, dân chủ và công bằng; ở đó tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng của quản lý và khiếu kiện của dân.

Kiểu dự án đó không thể được xếp là vì mục đích công cộng. Đó là vì mục đích “kiếm ăn” ở một khu dân cư nào đó, khu đô thị nào đó.

Do giá đất đai trong đô thị rất cao, tiềm năng thu lợi lớn nên nhà đầu tư mong muốn Nhà nước thu hồi đất để giao cho mình. Lợi dụng quyền thu hồi đất của Nhà nước để phục vụ lợi ích kinh tế đơn thuần của nhà đầu tư trong trường hợp này là không đúng.

Song nhiều cuộc tranh luận và lấy ý kiến cử tri về trường hợp “các dự án kinh tế xã hội” như trên dường như đều bị “thu hồi” chính kiến.

Như để tránh cái “không đúng” liên quan đến tình trạng thu hồi đất tràn lan mà ông Đặng Hùng Võ và nhiều cử tri khác bức xúc, Dự thảo hiến pháp lại quy định “Việc thu hồi đất phải có bồi thường, công khai, minh bạch, công bằng theo quy định của pháp luật”.

Thụt lùi sâu sắc!

Từ nhiều năm qua, “theo quy định của pháp luật” vẫn là một cụm từ trừu tượng đến mức luôn có thể làm phát sinh vô số vi phạm hết sức cụ thể ở các địa phương.

Một trong những vi phạm điển hình đã được đưa lên bản đồ nhân quyền thế giới là vụ cưỡng chế trái phép đất của gia đình “Người nông dân nổi dậy” Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, gây nên một chấn động đủ lớn và cũng đủ làm nên một dấu mốc về phản ứng của nông dân đối với chính quyền, tính từ sau cuộc “cách mạng” Thái Bình năm 1997.

Chỉ sau vụ việc Đoàn Văn Vươn, các nhà lập pháp và cả hành pháp mới bắt buộc phải xem xét đến khả năng điều chỉnh Luật đất đai theo hướng sở hữu cá nhân, thay cho điều được gọi là “sở hữu toàn dân” luôn bị khép chặt.

Thực ra, đã có một hy vọng cho dân chúng và đặc biệt cho tầng lớp nông dân áo mộc khi Luật đất đai được hứa hẹn đổi khác theo hướng đa sở hữu tích cực, cũng như đem lại sắc thái công bằng hơn và dĩ nhiên làm giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước trong việc giải quyết làn sóng khiếu tố đất đai – vốn đang mỗi lúc một dâng cao và quyết liệt hơn.

Tuy nhiên, bầu không khí công dân – đang manh nha hơi hướng tự do, bỗng trở nên hụt hẫng vào những ngày gần diễn ra kỳ họp quốc hội tháng 5/2013, khi những lời hứa hẹn vụt trở nên thâm trầm đến mức khó hiểu.

Không còn mấy quan chức nhắc đến câu chuyện “đa sở hữu”.

Thay vào đó, khi chủ nhiệm ủy ban pháp luật của Quốc hội – ông Phan Trung Lý – xuất hiện với bộ mặt căng đầy cùng phát ngôn “vẫn thu hồi đất cho các dự án kinh tế xã hội”, người ta lại có thể nhận ra một sự thụt lùi sâu sắc về mặt tư duy, không khác mấy từ ngữ tương tự mà người Mỹ thường dùng để ám chỉ những quốc gia vi phạm nhân quyền một cách tệ hại.

Không có một cải cách xứng đáng nào được đưa ra liên quan đến Luật đất đai. Trái ngược với mong mỏi của người dân về quyền sở hữu đất cần được quy định trong luật, Dự thảo hiến pháp vẫn cho rằng: vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên không đặt vấn đề trưng mua vì tổ chức, cá nhân chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu.

Xem ra, Đoàn Văn Vươn và những người thân của mình đã phải đi tù một cách uổng phí. Cũng sau hình ảnh không thể quên của người nông dân này, hình như các cơ quan hữu trách vẫn chưa rút ra được một bài học nào về trách nhiệm trong hành xử với giai tầng nông dân trong cái xã hội đầy tiềm ẩn động loạn này.

Chỉ có một sự kiện dường như mang tính ngẫu nhiên và có thể an ủi phần nào cho dư luận: trước kỳ họp Quốc hội 3 ngày, Chính phủ phát đi một văn bản về hoàn thiện 7 nhóm vấn đề của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Trong đó, rất đáng chú ý là một đề xuất của cơ quan hành pháp này: “Việc thu hồi đất chỉ được thực hiện trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng mà không quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân vì lý do “các dự án phát triển kinh tế xã hội””.

Tất nhiên, khi các đại biểu quốc hội chưa bấm nút thông qua, bất kỳ một đề nghị nào, dù của Chính phủ hay từ phía Ủy ban DTSĐHP, cũng chỉ mang tính số ít.

Nhưng lẽ nào vào lần này, Quốc hội muốn “phản công” Chính phủ?

Hai phe!

Trong khi những người đại diện cho dân chúng vẫn mải mê với cuộc tranh luận thiếu lối ra, câu chuyện bị o ép thu hồi đất đai ở xã Tam Cường ở tỉnh Phú Thọ và những nơi tương tự vẫn không ngừng tái hiện.

“Phản đối ư?” – báo Nông nghiệp Việt Nam đặt câu hỏi.

Rồi tờ báo này cũng tự tìm ra câu trả lời đắng ngắt: những gia đình có công nông bị giữ xe, bảo phải ký vào biên bản đền bù đất mới cho chạy nhưng chạy được mấy hôm lại phạt, phải bán xe. Những cây xăng mi ni đều bị lập biên bản và bắt đình chỉ nếu không ký vào biên bản nhận đền bù. Các giấy tờ liên quan đến chính quyền rất khó được giải quyết.

Như con ông Phạm Công Lưu ở khu 3 đi đăng ký kết hôn không được giải quyết, sau đó phải về cơ quan đăng ký. Như con những nhà xin giấy tờ đi học bị phê thẳng vào hồ sơ gia đình không chấp hành chủ trương đường lối của địa phương. Trong đại hội Hội Người cao tuổi xã có ba đảng viên trên 70 tuổi bị đuổi ra khỏi hội trường vì không ký. Đến ngay cả ông Hoành, ông Lý đi bệnh viện huyện cũng bị bác sĩ hỏi gia đình đã ký bán ruộng chưa. Loa phóng thanh ra rả suốt ngày rằng những người không ký bán ruộng là kẻ xấu, là thoái hóa biến chất, là lầm đường lạc lối…

Do phản đối chính sách lấy đất ruộng 2 đảng viên bị khai trừ, 18 đảng viên bị cảnh cáo (nhiều người 50-60 năm tuổi đảng, bệnh tật), 3 đại biểu hội đồng nhân dân bị bãi nhiệm, 1 trưởng khu bị cách chức, 1 cán bộ khuyến nông bị bãi nhiệm, 1 Chủ tịch Hội Người cao tuổi bị cách chức…, mấy người bị giam trên huyện. Tất cả cũng đều từ lý do phản đối chuyện dự án lấy đất ruộng của mình.

Gia đình anh Hán Văn Thanh ở khu 3 thôn Tự Cường là một điển hình về chia rẽ đến nỗi chia cả bàn thờ, chia cả ngày giỗ cha, giỗ mẹ. Anh bảo: “Nhà tôi có mười anh em giờ chia hai phe, bố tôi, mẹ tôi tôi cúng, bố anh mẹ anh anh cúng. Cùng cha mẹ mà nay ra ngõ không nhìn mặt nhau. Nhớ thời bầm bủ tôi còn sống vẫn thường khuyên con cái rằng: “Củ sắn chia đôi, bắp ngô bẻ nửa, nhà ta anh em đông nhưng no đói phải đùm bọc nhau” mà đau lòng!””.

Giữ tên nước sẽ bỏ qua thời cơ

Posted on


Không trình Quốc hội phương án đổi tên nước trong kỳ họp từ ngày 20/5 đến 22/6. Ông Phan Trung Lý, chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật, ủy viên ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cho biết trong ngày khai mạc kỳ họp.

Trước đó tại buổi họp báo vào chiều ngày 17/5, ông Nguyễn Hạnh Phúc, chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã thông báo sẽ đưa việc sửa đổi tên nước ra bàn thảo trong kỳ họp lần này.

Ông Lê Hiếu Đằng, cựu phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc đổi tên nước là thời cơ rất lớn để thay đổi một số điều trong hiến pháp, làm đòn bẩy cho sự phát triển của đất nước. Nếu vẫn như cũ thì rất tiếc, thời cơ qua đi.”

Qua việc kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII không đưa phương án đổi tên nước ra bàn thảo, ông Đằng đã dành cho Radio Australia (radioaustralia.net.au/vietnamese/) buổi phỏng vấn.

Radio Australia (RA): Thưa ông, Việt Nam có nên thay đổi tên nước vào lúc này?

Ông Lê Hiếu Đằng (LHĐ): Theo tôi, nguyện vọng chung của người dân qua tham dò và góp ý về hiến pháp phải xác định rằng, lúc này không phải là giai đoạn xã hội chủ nghĩa (CNXH). Và cũng không có giai đoạn đó, đây chỉ là ảo tưởng thôi. Nhưng lại đặt tên nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam là không trung thực với người dân và không đúng với tính chất của tình hình đất nước hiện nay.

Vì vậy việc thay đổi tên nước lúc này hợp với lô-gich, đúng với thực tế. Chính não trạng của một số vị sợ thay đổi, không thấy rằng thay đổi sẽ lợi rất nhiều, trong nước cũng như với tình hình thế giới.

Bản thân tôi không tin việc sửa đổi hiến pháp năm 1992 sẽ có bước chuyển gì ghê gớm, hay mới cả. Một việc dễ như đổi tên nước mà vẫn không có được, huống gì Điều 4 và một số điều khác. Thành ra tôi cho rằng cái này do đầu óc bảo thủ, không muốn đổi mới đã ngăn cản sự thay đổi hiến pháp và từ đó sẽ cản trở sự phát triển của xã hội, đất nước Việt Nam.

Quan điểm của tôi không trông chờ vào quốc hội, mặt trận, chính phủ gì hết, mà người dân phải xây dựng xã hội dân sự đủ mạnh để tác động đến. Đây là hướng phải làm, như vậy mới sự thay đổi nào đó.

RA: Đặt lại tên nước, theo ông nên lấy tên nào để hợp lý nhất vào lúc này?

LHĐ: Khuynh hướng chung không muốn có sự xáo trộn nhiều, thì trở lại lấy tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và hiến pháp năm 1946 sẽ hợp lý nhất. Hiến pháp năm 1946 có nhiều tiến bộ, cũng khỏi phải suy nghĩ thế này thế kia, thuận lợi hơn, được nhiều người chấp nhận, thống nhất hơn.

RA: Việc trở lại dùng tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa liệu có đúng bản chất của chính trị hiện tại, phát triển tương lai của đất nước, cũng như việc hòa giải dân tộc?

LHĐ: Thực tế là thể chế cộng hòa, thêm chữ dân chủ vào cũng không sao cả. Năm 1946, quốc hội thể hiện sự đoàn kết dân tộc với nhiều đảng phái, phe phái. Thậm chí nhường 70 ghế cho các đảng phái khác. Thành ra lấy tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa dễ chấp nhận, tạo sự đồng thuận lớn hơn.

Lấy tên Việt Nam Cộng Hòa thì sẽ kẹt. Vì nhiều người nghĩ trở lại chế độ Sài Gòn trước 1975, sự đồng thuận không cao. Đứng về mặt hợp lý thì thêm chữ dân chủ không có gì là tai hại cả.

RA: Với suy nghĩ của ông việc thay đổi tên nước có làm thúc đẩy nhanh quá trình dân chủ trong nước và hội nhập với thế giới?

LHĐ: Tôi nghĩ là vậy. Vì thế giới có còn nước nào XHCN nữa đâu. Ngay cả Trung Quốc cũng vậy. XHCN chỉ là ảo tưởng mà thôi. Mình cứ duy trì mãi nó không đúng sự thật. Do đó trở lại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sẽ phù hợp với xu thế tiến bộ trên thế giới. Về mặt ngoại giao dễ chấp nhận hơn.

RA: Tên nước hiện nay được chọn vào ngày 2/7/1976, theo ông có phải đã vội vã và bắt chước nhiều nước XHCN lúc đó?

LHĐ: Đây là việc làm hết sức vội vã. Vì đặt tên nước mà không trên cơ sở nghiên cứu kỹ và phân tích tình hình thực tế của Việt Nam.

Ngay cả nước Lào vẫn giữ như cũ. Ngay cả Trung Quốc vẫn lấy tên Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Chỉ có Việt Nam có tên Cộng Hòa XHCN Việt Nam đi ngược lại trào lưu hiện nay.

Ngay cả các nước giống với nhà nước Việt Nam, với bản chất toàn trị, thì người ta cũng khôn ngoan hơn. Việt Nam lấy tên XHCN không có nghĩa gì và không phù hợp với tình hình đất nước hiện tại.

RA: Tên nước hiện tại có gây bất lợi cho Việt Nam trong ngoại giao quốc tế?

LHĐ: Trước hết với nhân dân Việt Nam tên nước hiện tại không chính danh. Làm gì cũng phải chính danh, không sẽ trở thành lừa người dân. Bởi vì đâu có phải XHCN mà gọi là Cộng Hòa XHCN Việt Nam. Do đó chính danh thì bản chất nó như thế nào thì đặt đúng tên như thế đó. Chứ không thể bản chất thế này đặt tên thế khác làm cho mơ hồ, không tin tưởng, người ta cười.

XHCN gì mà hiện nay vẫn còn quá nhiều lộn xộn, vẫn đủ thứ chuyện. Y tế, giáo dục thu tiền tràn lan, đạo đức xuống cấp.

RA: Thực tế nhiều quốc gia tên gọi có tên “dân chủ”, “nhân dân” lại hay vi phạm những nguyên tắc cơ bản về dân chủ, vậy theo ông tên nước có cần để những mỹ từ trên?

LHĐ: Quan trọng nhất là thể chế cộng hòa, còn cái đuôi dân chủ, hay nhân dân cũng có thể chấp nhận được. Bản chất chế độ cộng hòa chứ không phải XHCN. Nói đến XHCN là nói đến nhà nước toàn trị. Còn chế độ cộng hòa có lưỡng viện, thế này thế kia, dân trực tiếp bầu, đảng phải đặt trong pháp luật, chứ không phải như hiện nay.

Quốc hiệu nào hợp lòng dân?

Posted on


Năm 1976 nước Việt Nam tái thống nhất, lấy quốc hiệu là “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam“. Từ “Xã hội chủ nghĩa”được sao chép từ tên của một số quốc gia, như Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Romania, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc… Điều đó không chỉ để phân biệt với ba quốc hiệu đã từng tồn tại trên đất Việt là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“, “Việt Nam Cộng hòa“ và “Cộng hòa Miền Nam Việt Nam“, mà còn để thể hiện con đường do giới lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã chọn cho Dân tộc.

Có lẽ khi ấy không có nhiều người công khai phản đối sự lựa chọn này. “Bên thắng cuộc” thì tin tưởng vào sự sáng suốt của những người đã lãnh đạo thắng lợi hai cuộc chiến tranh chấn động địa cầu, và cuộc sống no đủ ở Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu (như đã được truyền tụng) là niềm mơ ước của hàng triệu người đã phải chịu đói khổ suốt mấy chục năm chiến tranh. “Bên thua cuộc” thì nghĩ mình buộc phải chấp nhận, chứ không được quyền tham gia lựa chọn.

Cuộc sống khắc nghiệt đằng đẵng những năm 80 của thế kỷ 20 khiến người người bừng tỉnh khỏi giấc mộng, và thảng thốt tự hỏi: Chẳng nhẽ “Xã hội chủ nghĩa” là thế này sao?

Rồi Liên Xô và hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu đồng loạt sụp đổ. Chính Nhân dân (của các nước đó) đã đứng lên xóa bỏ cái chế độ mà họ từng kỳ vọng, nhưng rồi quá thất vọng. Đối với hầu hết các nước trên Thế giới, cuộc thí nghiệm quy mô, tốn kém mồ hôi và xương máu có một không hai trong lịch sử nhân loại đã kết thúc. Mấy chế độ mang danh “Xã hội chủ nghĩa” còn sót lại bơ vơ với câu hỏi “đi đâu, về đâu”.

Thực tế phũ phàng có sức thuyết phục mạnh hơn mọi lý thuyết, khiến những người bảo thủ nhất trong bộ máy cầm quyền ở Việt Nam cũng phải nhận ra rằng lối thoát duy nhất là phải “đổi mới”, tức là phải dứt khỏi những ràng buộc lý luận quá giáo điều. Như người mới tập bơi, lúc đầu chỉ dám mon men cạnh con tàu đang chìm dần. Nhưng rồi chới với trong sóng nước, đành phải bám vào bất cứ vật nào trôi nổi trong tầm với, miễn là còn có thể lềnh bềnh trên mặt nước. Sau hơn hai mươi năm trôi dạt, giờ đây đã mất hút bóng tàu xưa, chỉ còn lại kẻ ngơ ngác kiếm tìm “định hướng”. Tuy điệp khúc “Xã hội chủ nghĩa” vẫn còn vang lên đâu đó, nhưng với lý lẽ vu vơ như trong cơn mê sảng. Nếu tỉnh táo tìm kiếm từ Bắc vô Nam, thì không thể tìm được bất cứ biểu hiện tích cực nào trong thực tế cuộc sống, để chứng tỏ rằng xã hội này cũng có những nét tốt hơn so với xã hội tư bản phát triển. Những giá trị tốt đẹp từng được gán cho “Xã hội chủ nghĩa”ngày càng vắng bóng, dần bị triệt tiêu. Thay vào đó, những biểu hiện vốn được coi là đặc trưng xấu của chế độ phong kiến và của chủ nghĩa tư bản hoang dã ngày càng lấn át: Tham nhũng lộng hành, bất công ngự trị, bóc lột trắng trợn, thất nghiệp tràn lan… Quốc hiệu hiện thời trở nên cô đơn giữa lòng Dân tộc, vì nó chứa đựng tính từ “Xã hội chủ nghĩa”, đã trở nên xa lạ và hoàn toàn trái ngược với thực trạng của Đất nước. Vì vậy, theo Tiêu chí 1, đã đến lúc chúng ta phải chia tay với quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, để sống thật hơn với lòng mình. Nếu ai đó thực tâm yêu Chủ nghĩa xã hội với tư cách một lý tưởng tốt đẹp, thì lại càng phải đấu tranh đòi bỏ quốc hiệu hiện thời, bởi việc gắn tính từ “Xã hội chủ nghĩa” với tình trạng tệ hại hiện nay chỉ có tác dụng bôi nhọ Chủ nghĩa xã hội mà thôi.

Có ý kiến chỉ đạo rằng cần tiếp tục duy trì quốc hiệu hiện nay để “thể hiện rõ mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu nào? Nếu là mục tiêu cuối cùng của ĐCSVN thì là tiến lênCộng sản chủ nghĩa, vậy thì tại sao không đổi tên nước thành “Cộng hòa Cộng sản chủ nghĩa Việt Nam”? Nếu là mục tiêu trước mắt thì chỉ là “quá độ” hay “định hướng Xã hội chủ nghĩa”, vậy thì tại sao không đổi tên nước thành “Cộng hòa Quá độ Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hay “Cộng hòa Định hướng Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”? Thực ra, mục tiêu hiện nay của giới cầm quyền chỉ đơn thuần là duy trì chế độ độc đảng bằng mọi cách. Vậy thì, nếu muốn “thể hiện rõ mục tiêu phấn đấu của Đảng”, tại sao không chọn quốc hiệu là “Cộng hòa Độc đảng Việt Nam” cho trung thực? Đặt các câu hỏi như vậy để thấy rõ hơn sự ngụy biện, khi vin vào mục tiêu phấn đấu để duy trì quốc hiệu hiện thời.

Mục tiêu càng cao xa thì càng có thể sai, có thể nhầm. Nếu muốn thì cứ việc âm thầm mà theo đuổi, như người lính ra trận giữ bí mật mục tiêu. Tại sao cứ phải bô bô, nói thay làm, rồi gán cái mục tiêu đã lộ rõ là vô vọng vào cả tên nước, tạo cớ trói buộc quyền tìm tòi, lựa chọn và khả năng sáng tạo của Nhân dân, cản trở bước tiến của Dân tộc?

Chủ nghĩa xã hội chỉ là mục tiêu phấn đấu của ĐCSVN, nhưng lại được gán bừa cho nguyện vọng của Nhân dân. Đó là một sự xúc phạm, thể hiện tập quán coi thường Nhân dân. Khi cuộc thử sức đã ngã ngũ trên phạm vi Thế giới, mà vẫn dai dẳng bám lấy ảo vọng “Xã hội chủ nghĩa” được cóp nhặt từ con tàu đã chìm nghỉm mang tên Liên Xô, thì chẳng thể hiện được lòng trung thành, mà chỉ chứng tỏ sự trì trệ, bảo thủ và khả năng nhận thức thời cuộc quá kém cỏi. Điều đó chỉ khiến Dân thêm xa và càng coi thường giới lãnh đạo, ảnh hưởng xấu tới hiệu quả điều hành của chính quyền.

Giờ đây, bao người sinh ra, lớn lên và được đào tạo trong chế độ này đã mất hẳn niềm tin vào Chủ nghĩa xã hội. Những người từng ở bên kia chiến tuyến và con em họ lại càng khó chia sẻ với lý tưởng “Xã hội chủ nghĩa”. Do đó, việc duy trì quốc hiệu hiện nay chỉ làm cho lòng người thêm li tán, gây cản trở cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc.

Khi “Xã hội chủ nghĩa” đã trở nên tai tiếng, cả Thế giới chỉ có hai nước Việt Nam và Sri Lanka còn giữ tính từ ấy trong quốc hiệu, thì sự kiên định duy trì quốc hiệu hiện thời chỉ làm cho Đất nước thêm cô đơn trên trường quốc tế, và chứng tỏ rằng chính quyền này thuộc loại “khó hội nhập”.

Trong thuyết minh về ý kiến đề nghị lấy lại tên gọi “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“, Báo cáo của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 11 tháng 4 năm 2013 viết rằng:

“Tên gọi này có khả năng lôi cuốn, tập hợp đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội, đồng thời thuận lợi hơn cho ta trong quan hệ hợp tác với các nước trên Thế giới, góp phần phát huy và tranh thủ được các nguồn lực trong công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước.”

Đánh giá như vậy, trong mối so sánh với phương án tiếp tục duy trì tên nước là “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, thì có nghĩa là thừa nhận rằng quốc hiệu hiện thời không có những tác dụng ấy. Vậy thì, chiểu theo Tiêu chí 2, còn chần chừ gì nữa mà không chia tay với quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, để “đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội”, để “thuận lợi hơn cho ta trong quan hệ hợp tác với các nước trên Thế giới”, và để “phát huy và tranh thủ được các nguồn lực trong công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước”?

Cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa, khái niệm “Xã hội chủ nghĩa” đã vương phải cái dớp đại bại. Đối với người Việt, từ “Xã hội chủ nghĩa” hay hiện hữu trong ký ức về những sai lầm của cuộc cải tạo tư sản ở miền Nam, về những năm tháng bế tắc và túng quẫn trước thời kỳ “đổi mới”, và đặc biệt hằn sâu trong tâm khảm của bao người đã bị cầm tù không án, vì từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, và những người đã phải mạo hiểm cả mạng sống để vượt biên đi tìm kiếm tự do. Mấy chục năm qua, từ “Xã hội chủ nghĩa” đã bị lạm dụng, để tô vẽ và biện hộ cho chế độ phi dân chủ, bị tham nhũng lộng hành từ trên xuống dưới. “Xã hội chủ nghĩa” bị gán cho một nền kinh tế lâm cảnh “cha chung không ai khóc”, với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc… phung phí của cải của Nhân dân và dìm Đất nước ngập sâu trong nợ nần. “Xã hội chủ nghĩa” vang lên như một lời nói dối trơ trẽn đối với bao số phận bị vùi dập bất công, quanh năm lang thang vật nài công lý… Vậy là bốn chữ “Xã hội chủ nghĩa” không còn tạo ra được hưng phấn cho những tâm hồn đã một thời tràn trề hy vọng, mà trở nên phản cảm đối với hàng triệu trái tim. Thế thì, theo Tiêu chí 3, tại sao không tránh nhắc tới nó trong quốc hiệu cho đỡ đau lòng?

Với những điều đã được trình bày ở trên, có lẽ đa số Nhân dân sẽ không chấp thuận gắn bó mãi với quốc hiệu hiện thời, tức là nó không thỏa mãn Tiêu chí 4. Nếu nhà cầm quyền muốn chứng minh điều ngược lại, thì phải tiến hành trưng cầu dân ý một cách thật sự dân chủ, thông qua hình thức bỏ phiếu kín, để người dân dám bầy tỏ chính kiến của mình, thay vì ép buộc họ phải điền hai chữ “đồng ý”, hay làm ngơ trước thực tế rồi kết luận bừa như mấy chục năm qua. Trước khi trưng cầu dân ý, giới lãnh đạo và bộ máy lý luận hãy ngồi lại với nhau, thảo luận cho ra nhẽ, để xác định rõ thứ “Xã hội chủ nghĩa” mà họ theo đuổi thực ra là cái gì. Chắc hẳn nó không thể là thứ “Xã hội chủ nghĩa quốc gia” (National Socialism, Nationalsozialismus), cái lý tưởng của tổ chức phát xít mang tên “Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa quốc gia Đức” (Nationalsozialistischen Deutschen Arbeiterpartei, mà người Việt quen gọi tắt là “Đức Quốc Xã”), đã gây bao tội ác ngút trời trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Liệu thứ mà họ theo đuổi có phải là kiểu “Xã hội chủ nghĩa” thuần túy lý thuyết của Marx và Engels, hay là kiểu “Xã hội chủ nghĩa” đã được hiện thực hóa bởi trường phái Lenin và Stalin? Tại sao càng phát triển theo định hướng “Xã hội chủ nghĩa” thì càng khác lạ so với nguyên mẫu? Xét cho cùng thì điều kiện kinh tế và xã hội Việt Nam có phù hợp với sản phẩm nhập ngoại ấy hay không? Cái gọi là “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx – Lenin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” chẳng qua là cố “gọt chân cho vừa giày”. Sư phụ có “chân vừa giày” mà còn phải“treo giày”, giữa đường bỏ cuộc, vậy thì đệ tử “gọt chân” có thể tập tễnh được bao lâu? Khi không còn ai thí thân đi trước làm hoa tiêu, thì kẻ mò mẫm cô đơn biết lẫm chẫm về đâu? Lấy đâu ra cái quyền để bắt cả Dân tộc phải lẽo đẽo đi theo trong cuộc tìm kiếm vô định, mịt mù tương lai? Bằng nào các nhà lý luận của ĐCSVN chưa tìm được câu trả lời thuyết phục cho chính bản thân mình, thì không nên đem câu hỏi lựa chọn hay không con đường “Xã hội chủ nghĩa” để đặt ra cho muôn dân, những người vốn chỉ lo làm ăn kiếm sống, chứ chẳng quan tâm đến chủ nghĩa này hay chủ nghĩa khác.

Vậy là quốc hiệu hiện thời vi phạm cả bốn tiêu chí đã đặt ra trong Phần 1. Cho nên, tốt nhất là sớm đổi quốc hiệu “cho lành”.

3. Quốc hiệu đã qua

Vốn dĩ, trong cả hai phiên bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XIII và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2 tháng 1 năm 2013, chỉ có một phương án duy nhất về tên nước, là tiếp tục duy trì quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ấy là thể hiện sự “kiên trì những vấn đề có tính nguyên tắc, thuộc về bản chất của chế độ chính trị và Nhà nước ta, tiếp tục khẳng định Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa“, như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN khóa XI.

Sau ba tháng lấy ý kiến Nhân dân, trong Báo cáo gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 11 tháng 4 năm 2013, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề xuất thêm phương án thứ hai cho quốc hiệu là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“.Đây là một động thái tích cực, không chỉ thể hiện thái độ tiếp thu ý kiến Nhân dân của những người tham gia viết Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, mà còn chỉ ra rằng tên nước không phải là thứ bất di bất dịch, và mọi người đều có thể tham gia góp ý để thay đổi cho hợp lý.

Có dư luận cho rằng một trong những nơi đề nghị lấy quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ là Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992, do nhóm 72 người ký ngày 19 tháng 1 năm 2013, nên thường được gọi tắt là Kiến nghị 72. Đó là một sự nhầm lẫn, bởi vì Kiến nghị 72 không hề đề cập đến tên nước! Có lẽ nhầm lẫn ấy bắt nguồn từ việc hiểu sai rằng Dự thảo Hiến pháp 2013 là một bộ phận của Kiến nghị 72. Thực ra, hai văn bản này hoàn toàn độc lập với nhau, và việc ký Kiến nghị 72 không có nghĩa là tán thành với nội dung của Dự thảo Hiến pháp 2013.*

Là một trong những người đầu tiên đặt bút ký tên vào Kiến nghị 72, bản thân tôi không ủng hộ phương án lấy quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“, mặc dù chia sẻ quan điểm cho rằng đó là một giải pháp khả thi để giới cầm quyền chấp nhận bỏ từ “Xã hội chủ nghĩa” ra khỏi quốc hiệu. Xét theo bốn tiêu chí đã trình bày ở Phần 1, lý do khiến tôi không tán thành lấy quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ là như sau:

Thứ nhất, hiện nay và cả trong thời gian tới xã hội này vẫn chưa có dân chủ, vì giới cầm quyền chưa sẵn sàng chấp nhận quyền dân chủ của Nhân dân, trong khi đa số người dân cũng chưa quen thực hiện và bảo vệ quyền dân chủ. Tức là phương án “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ chứa đựng yếu tố giả dối, trái ngược với thực trạng của Đất nước. Vậy là vi phạm Tiêu chí 1. Vả lại, kể cả khi xã hội đã thực sự có dân chủ, thì cũng chẳng cần phải khoe khoang, mà nên chọn quốc hiệu khiêm tốn như các nước dân chủ hàng đầu Thế giới.

Thứ hai, nếu dùng tên “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ để đặt cho nước Việt Nam thống nhất, thì hàng triệu người đã từng gắn bó với chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam sẽ cảm thấy mình không được tôn trọng. Điều đó sẽ ảnh hưởng xấu cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc. Hơn nữa, nếu sử dụng tên trùng thì nước Việt Nam thống nhất có thể sẽ phải gánh chịu hậu quả xấu của những ký kết hay cam kết ngoại giao mà lãnh đạo của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòađã tiến hành trong hoàn cảnh bị lệ thuộc thời chiến tranh. Như vậy, quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ sẽ gây ảnh hưởng xấu cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân, tức là vi phạm Tiêu chí 2.

Thứ ba, quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ gợi lại những sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, mà cho đến nay các nạn nhân vẫn chưa được xin lỗi và bồi thường một cách thỏa đáng. Nó cũng gợi lại những đau thương và mất mát mà nhiều gia đình miền Nam đã từng phải hứng chịu trong cuộc chiến “nồi da nấu thịt”. Đối với những nạn nhân như vậy, quốc hiệu này đã trở nên phản cảm. Vậy là vi phạm Tiêu chí 3.

Thứ tư, vì những lý do kể trên, quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ khó có thể được đa số người dân chấp thuận.Vậy là có thể vi phạm cả Tiêu chí 4.

Khi đã phải tránh quốc hiệu một thời của quốc gia phía bắc, thì cũng khó mà chấp nhận quốc hiệu của quốc gia ở phía nam vĩ tuyến 17. Quốc hiệu “Việt Nam Cộng hòa“ tuy không vi phạm Tiêu chí 1 (vì không chứa từ nào trái ngược với thực trạng Đất nước), nhưng lại vi phạm Tiêu chí 2 (vì cũng gây bất lợi cho hòa hợp Dân tộc), Tiêu chí 3 (vì gây phản cảm với những nạn nhân của chế độ Việt Nam Cộng hòa) và Tiêu chí 4 (vì chắc nó không được giới cầm quyền và một bộ phận Nhân dân thuộc “bên thắng cuộc” chấp nhận). Vì vậy cũng không thể chọn “Việt Nam Cộng hòa“ làm tên nước Việt Nam thống nhất.

Có ý kiến đề nghị lấy lại tên “Đại Việt“. Đó là quốc hiệu của nước ta hơn 700 năm, trong khi tên nước “Việt Nam” mới có từ năm 1804. Tuy nhiên, tên xưng “tự đại” đó có thể gây phản cảm trong quan hệ quốc tế, và việc chọn tên “Đại Việt“ đầy tự hào giữa thời buổi khủng hoảng trầm trọng về chính trị, kinh tế và xã hội dễ gây ra cảm giác khôi hài trong cộng đồng người Việt. Nó cũng tạo thêm duyên cớ để bên “Đại Bá” lên án chúng ta là “Tiểu Bá”. Do đó, theo Tiêu chí 3, không nên lấy lại tên “Đại Việt“.

4. Quốc hiệu thay thế

Trong hai phần trên, ta đã đi đến kết luận là không nên dùng lại mấy quốc hiệu đã hoặc đang được sử dụng ở nước ta. Vậy thì chọn quốc hiệu nào? Hãy cùng nhau tham khảo danh sách tên (tiếng Anh) của các quốc gia trên Thế giới để tìm lời gợi ý.

Trong số 206 nhà nước có chủ quyền được thống kê, thì có 153 nước (chiếm 74%) đưa danh từ (chỉ thể chế) “Cộng hòa” (Republic) hay “Vương quốc” (Kingdom) vào quốc hiệu. Trong số 136 quốc hiệu có danh từ “Cộng hòa”, thì 107 (chiếm 79%) chỉ kèm thêm địa danh, ví dụ như Cộng hòa Áo, Cộng hòa Ấn Độ, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Italia. Nếu noi theo đa số này, ta có thể chọn quốc hiệu là “Cộng hòa Việt Nam”. Phương án này ngắn gọn, giản dị, hòa nhập và không chứa khái niệm nào trái với thực trạng đất nước (tức là thỏa mãn Tiêu chí 1). Nhưng phải chăng “Cộng hòa Việt Nam” chỉ là cách viết ngược của quốc hiệu “Việt Nam Cộng hòa“? Băn khoăn này được củng cố khi dịch “Cộng hòa Việt Nam” ra các ngoại ngữ thông dụng, chẳng hạn như tiếng Anh hay tiếng Đức, và thu được “Republic of Vietnam“ hay “Republik Vietnam“ – đó chính là quốc hiệu (tiếng Anh hay tiếng Đức) của “Việt Nam Cộng hòa“. Nếu quả như vậy thì không nên chọn quốc hiệu “Cộng hòa Việt Nam”, vì những lý do như đã trình bày ở Phần 3 đối với quốc hiệu “Việt Nam Cộng hòa“. Tuy nhiên, có thể tránh yếu tố nhạy cảm do lịch sử để lại, nếu phân biệt giữa danh từ và tính từ. Trong số 107 quốc hiệu được tạo bởi danh từ “Cộng hòa” đi kèm với địa danh, thì 94 trường hợp (chiếm 88%) có địa danh xuất hiện với tư cáchdanh từ, ví dụ như Republic of Austria (Cộng hòa Áo), Republic of India (Cộng hòa Ấn Độ), và 13 trường hợp (chiếm 12%) có địa danh xuất hiện với tư cách tính từ, ví dụ như Argentine Republic (Cộng hòa Argentina), Czech Republic(Cộng hòa Séc), French Republic (Cộng hòa Pháp), Hellenic Republic (Cộng hòa Hy Lạp), Italian Republic (Cộng hòa Italia), Portuguese Republic (Cộng hòa Bồ Đào Nha). Như vậy, nếu coi “Việt Nam” là danh từ, thì tên tiếng Anh của “Cộng hòa Việt Nam” mới là “Republic of Vietnam“. Còn nếu coi “Việt Nam” là tính từ (thuộc về Việt Nam), thì tên tiếng Anh của“Cộng hòa Việt Nam” sẽ là “Vietnamese Republic”, không còn bị trùng với “Republic of Vietnam“, và đây là một phương án có thể chấp nhận được.

Nếu không hài lòng với phương án vừa rồi, mà vẫn muốn ghép danh từ “Cộng hòa” với danh từ ”Việt Nam”, thì phải bổ sung thêm vào đó một vài từ. Tất nhiên, không thể thêm những từ không phù hợp với hoàn cảnh của nước ta, như“Federal” (thuộc về liên bang), hay “Islamic” (thuộc về Islam), và cần chừa ra tính từ “Socialist” (Xã hội chủ nghĩa) mà ta đã xác định là nên chia tay với nó. Vậy thì, trong kho từ vựng của 206 quốc hiệu đang được sử dụng, chỉ còn lại danh từ“People” (Nhân dân) và hai tính từ “Democratic” (Dân chủ), “United” (Thống nhất, Liên hiệp, Hợp nhất…) là thích hợp.

Nếu gia nhập cái gia đình gồm 5 quốc hiệu chứa danh từ “People” (Nhân dân), bao gồm Algérie, Bangladesh, Lào, Triều Tiên và Trung Quốc, thì quốc hiệu ngắn nhất của nước ta sẽ là “Cộng hòa Nhân dân Việt Nam” (People’s Republic of Vietnam). Phương án này vi phạm Tiêu chí 1, vì Nhà nước này quá xa Nhân dân, chưa phải là “của Nhân dân”, nên nếu nói “Cộng hòa (của) Nhân dân” (People’s Republic) là trái với thực trạng Đất nước. Nó cũng vi phạm Tiêu chí 3, vì bằng nào Nhân dân ta còn bị ức chế triền miên bởi cách cư xử của láng giềng phương bắc, thì bằng ấy tên gọi “Cộng hòa Nhân dân Việt Nam” còn gây phản cảm. Thậm chí, có thể nhiều người sẽ coi việc lựa chọn quốc hiệu này như một biểu hiện của sự theo đuôi ngoại bang để gây phương hại cho lợi ích của Dân tộc.

Nếu gia nhập cái quần thể của 10 quốc hiệu chứa tính từ “Democratic” (Dân chủ), bao gồm Algérie, Cộng hòa Dân chủ Congo, Đông Timor, Ethiopia, Lào, Nepal, São Tomé và Príncipe, Cộng hòa Dân chủ Sahrawi Ả Rập, Sri Lanka và Triều Tiên, thì quốc hiệu ngắn nhất của nước ta sẽ là “Cộng hòa Dân chủ Việt Nam”. Khi “Việt Nam” là danh từ, thì “Cộng hòa Dân chủ Việt Nam” chỉ là cách viết giao hoán của “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“, và nếu dịch ra tiếng Anh, thì kết quả của hai cách viết hoàn toàn trùng nhau: “Democratic Republic of Vietnam“. Kể cả khi coi “Việt Nam” là tính từ, để có tên tiếng Anh khác đi là “Vietnamese Democratic Republic”, thì phương án biến báo này vẫn vi phạm Tiêu chí 1, bởi vì trong thời gian tới xã hội ta vẫn chưa có dân chủ, nên từ “Dân chủ” trái với thực trạng của Đất nước.

Ở trên, tôi đã cố ý chép ra đầy đủ danh sách của 5 quốc gia có danh từ “Nhân dân” và 10 quốc gia có tính từ “Dân chủ”trong quốc hiệu. Tại sao? Để bạn đọc có thể dễ dàng kiểm nghiệm điều đã được viết trong Phần 1: Những quốc gia mẫu mực về dân chủ và Nhà nước thực sự là của Nhân dân thì trong quốc hiệu không có hai từ “Dân chủ” và “Nhân dân”. Ngược lại, ở nhiều quốc gia mà tính từ “Dân chủ” hay danh từ “Nhân dân” được gán vào quốc hiệu, thì dân chủ hay bị chà đạp và Nhân dân hay bị coi thường. Nếu đã ngộ ra điều đó, thì chắc không mấy ai còn cảm thấy tự hào khi thấy hai từ“Dân chủ” và “Nhân dân” xuất hiện trong quốc hiệu của nước mình.

Có 5 quốc hiệu chứa tính từ “United”, đó là: United Arab Emirates (Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất), United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland (Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland), United Mexican States (Liên bang Mexico), United Republic of Tanzania (Cộng hòa Thống nhất Tanzania) và United States of America (Hợp chúng quốc Hoa Kỳ). Nếu gia nhập gia đình này, hẳn ta sẽ không phải thấy xấu hổ vì các quốc gia “cùng hội cùng thuyền”. Lúc đó, quốc hiệu tiếng Anh của ta sẽ là “United Republic of Vietnam”, và quốc hiệu tiếng Việt sẽ là “Cộng hòa Thống nhất Việt Nam”. Rõ ràng là phương án này thỏa mãn Tiêu chí 1, vì Đất nước đã thống nhất. Nó thỏa mãn Tiêu chí 2, vì không gây ảnh hưởng bất lợi cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân. Nó cũng thỏa mãn cả Tiêu chí 3, vì nó không chứa yếu tố nào gây phản cảm. Vì vậy, có thể hy vọng rằng nó sẽ được Nhân dân chấp thuận, tức là thỏa mãn Tiêu chí 4. Có thể bây giờ một số người không thích quốc hiệu “Cộng hòa Thống nhất Việt Nam”, nhưng nếu nó được chọn ngay sau khi thống nhất Đất nước vào năm 1976 thì có lẽ đã được đa số Nhân dân tán thành, và bây giờ cũng không cần phải bàn chuyện thay đổi tên nước.

Để xét hết mọi trường hợp, cần nhắc tới tính từ “Co-operative” (Hợp tác) được ghép với danh từ “Republic” (Cộng hòa), đó là trường hợp của Co-operative Republic of Guyana (Cộng hoà Hợp tác Guyana). Phương án này cũng tương tự nhưtính từ “United”, nhưng không hay bằng.

Bây giờ ta xét đến các trường hợp quốc hiệu không chứa danh từ (chỉ thể chế) “Cộng hòa” (Republic) hay “Vương quốc”(Kingdom). Trong số này, nhóm đông đảo nhất là 25 quốc gia có quốc hiệu chỉ bao gồm địa danh, không kèm theo danh từ hay tính từ nào nữa (chiếm 12% của 206 quốc gia được thống kê). Mấy nước tiêu biểu thuộc nhóm này là Canada,Hungary, Japan (Nhật Bản), Malaysia và Ukraine (Ukraina). Hiển nhiên, ta cũng có thể chọn phương án đơn giản như vậy, nghĩa là chọn quốc hiệu “Việt Nam”. Rõ ràng là quốc hiệu này thỏa mãn cả bốn tiêu chí được đề ra ở Phần 1.

Có 14 quốc hiệu chứa danh từ “State” (Nhà nước). Trong đó, có 3 trường hợp chữ “States” (được dùng ở dạng số nhiều) đi với tính từ “United” hay “Federated”, để tạo thành nghĩa “Liên bang” hay “Hợp chúng quốc”. Trong các trường hợp còn lại, chữ “State” (được dùng ở dạng số ít) thể hiện nghĩa “Nhà nước”, ví dụ như State of Israel (Nhà nước Do Thái), State of Kuwait (Nhà nước Kuwait) và State of Libya (Nhà nước Libya). Theo cách này, ta có thể đặt quốc hiệu là“Nhà nước Việt Nam” (State of Vietnam). Tiếc rằng, ở nước ta giới cầm quyền đã quen với quan niệm cho rằng ĐCSVN đứng trên tất thảy, trên cả Tổ quốc và Nhân dân, và coi Nhà nước này thuộc về ĐCSVN, là cấp dưới của ĐCSVN. Cho nên, nếu chọn quốc hiệu – với tư cách là tên của Nước – là “Nhà nước Việt Nam”, thì họ dễ đồng nghĩa “Nước Việt Nam”với “Nhà nước Việt Nam”, và vì thế coi “Nước Việt Nam” cũng là của ĐCSVN… Ngộ nhận kiểu ấy sẽ gia tăng mức độ lộng quyền, chắc chắn không có lợi cho Dân tộc, cho Nhân dân. Nghĩa là phương án này không phù hợp với Tiêu chí 2.

Có hai quốc hiệu dùng tính từ “Độc lập” (Independent) phối hợp với danh từ “Nhà nước” (State), đó là “Nhà nước Độc lập Papua New Guinea” (Independent State of Papua New Guinea) và “Nhà nước Độc lập Samoa” (Independent State of Samoa). Mặc dù ta đã xác định là không nên đưa danh từ “Nhà nước” vào quốc hiệu nước nhà, nhưng vẫn nẩy sinh câu hỏi là: Có nên phối hợp tính từ “Độc lập” (Independent) với danh từ “Cộng hòa” (Republic) để tạo ra quốc hiệu “Cộng hòa Độc lập Việt Nam” (Independent Republic of Vietnam) hay không? Câu trả lời là không! Một mặt, việc đưa tính từ “Độc lập” vào quốc hiệu thể hiện sự tự ti hơn là tự tin. Mặt khác, sự nhún nhường của giới lãnh đạo trước những hành động lấn át triền miên của nhà cầm quyền Trung Quốc khiến dư luận hay phải đặt câu hỏi về tính độc lập của Nhà nước Việt Nam. Cho nên, tính từ “Độc lập” có thể trở thành phản cảm, tức là vi phạm Tiêu chí 3.

Như vậy, ta đã rà xét hết danh sách 206 quốc hiệu đang được sử dụng và lọc ra được ba phương án cho quốc hiệu nước nhà. Tất nhiên, có thể dùng cả một số danh từ và tính từ không xuất hiện trong 206 quốc hiệu đã xét để tạo thêm những phương án mới. Nhưng điều đó là không cần thiết và cũng không nên, bởi từ nào mà các chính trị gia của 206 nước trên Thế giới không lựa chọn thì ta cũng không nên dùng. Không nên đem cả quốc hiệu ra làm thí nghiệm, vì Dân ta đã quá khổ vì các cuộc thí nghiệm rồi.

*

* *

Tóm lại, theo tôi thì quốc hiệu cần thỏa mãn bốn tiêu chuẩn tối thiểu sau đây:

– Tiêu chí 1: Quốc hiệu không được chứa đựng những khái niệm trái ngược với thực trạng của Đất nước.

– Tiêu chí 2: Quốc hiệu không được gây ảnh hưởng xấu cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân, đặc biệt là không được gây cản trở cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc.

– Tiêu chí 3: Quốc hiệu cần tránh gây phản cảm.

– Tiêu chí 4: Quốc hiệu cần được Nhân dân chấp thuận.

Khi đã tán thành như vậy, thì hai hệ quả tất yếu là:

– Cần sớm chia tay với quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam“.

– Không lấy lại các quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“, “Việt Nam Cộng hòa“ và “Đại Việt“.

Dựa trên vốn từ và các cấu trúc ngữ pháp được sử dụng trong 206 quốc hiệu trên Thế giới, ta chỉ chọn được ba phương án quốc hiệu sau đây phù hợp với ba tiêu chí đầu và có thể thỏa mãn cả Tiêu chí 4:

– Phương án 1: Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnam).

– Phương án 2: Cộng hòa Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnamese Republic).

– Phương án 3: Cộng hòa Thống nhất Việt Nam (tên tiếng Anh: United Republic of Vietnam).

Phương án 1 chỉ sử dụng địa danh “Việt Nam” làm quốc hiệu, giống như 25 nước khác (chiếm 12% quốc hiệu trên Thế giới). Phương án này ngắn gọn, giản dị và dễ được mọi người chấp nhận, vì nó không chứa bất cứ yếu tố nào khiến người ta phải tranh luận hay phản đối.

Phương án 2 chỉ ghép danh từ “Cộng hòa” (Republic) với địa danh “Việt Nam” để tạo ra quốc hiệu, giống như 107 nước khác (chiếm 52% quốc hiệu trên Thế giới). Để tránh ấn tượng cho rằng “Cộng hòa Việt Nam” chỉ là cách viết ngược của“Việt Nam Cộng hòa“, cần xác định rằng hai quốc hiệu này khác nhau cả về thứ tự sắp xếp từ và cả về ngữ pháp: Từ“Việt Nam” trong “Cộng hòa Việt Nam” là tính từ, trong khi từ “Việt Nam” trong “Việt Nam Cộng hòa“ là danh từ. Do đó, tên tiếng Anh của “Cộng hòa Việt Nam” là “Vietnamese Republic”, trong khi tên tiếng Anh của “Việt Nam Cộng hòa“ là“Republic of Vietnam“. Cách vận dụng ngữ pháp như vậy không phải là bất thường, vì trong số 107 quốc hiệu được ghép bởi danh từ “Cộng hòa” và địa danh, có 13 trường hợp mà địa danh là tính từ (giống như “Vietnamese”).

Phương án 3 sử dụng tính từ “Thống nhất” để tạo ra một quốc hiệu có chứa hai danh từ “Cộng hòa” và “Việt Nam”, nhưng không trùng với hai quốc hiệu đã tồn tại ở hai miền Tổ quốc là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ và “Việt Nam Cộng hòa“. Tính từ “Thống nhất” không trái ngược với thực trạng, vì nước ta đã thống nhất. Tiếc rằng, đó mới chỉ là thống nhất theo nghĩa thông thường, tạm gọi là thống nhất về mặt vật chất, vì non sông tuy đã liền một dải, chịu sự quản lý của cùng một chính quyền, nhưng lòng người vẫn chia lìa trăm mối. Quốc hiệu “Cộng hòa Thống nhất Việt Nam” có thể là một lờinhắc nhở, thúc dục mọi người nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu hòa giải và hòa hợp Dân tộc, để sớm thống nhất Tổ quốc cả về mặt tinh thần.

Vậy thì nên lựa chọn quốc hiệu nào để thay thế quốc hiệu hiện thời? Mỗi người đều có thể đề xuất và trao đổi ý kiến của mình. Nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về tập thể Nhân dân, thông qua biểu quyết dân chủ, để đảm bảo rằng quốc hiệu thực sự được Nhân dân chấp thuận (Tiêu chí 4). Khi đã khẳng định rằng Nhà nước này là của Nhân dân, thì không ai, không một nhóm người nào có quyền đơn phương quyết định thay cho Nhân dân.

Hy vọng rằng những lý lẽ và tư liệu được trình bày trong bài viết này sẽ có ích cho mọi người trong quá trình tham gia thảo luận và lựa chọn cho nước nhà một quốc hiệu hợp lý, đáp ứng yêu cầu tối thiểu là: Quốc hiệu phải hội tụ lòng Dân!

Hà Nội, ngày 05-17/05/2013

H.X.P.

Vietnam, Vietnam – bộ phim sau 38 năm mới được chiếu

Posted on


(14.02.09) cuốn phim VietNam! VietNam! gồm 8 tập của Đạo Diễn John Ford (1894 -1973) . “Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.” Vì một lý do thầm kín nao đó mà Phim này nay mới được xem trên mạng internet youtube .
http://www.buudoan.com/2013/01/bo-phim-ve-chien-tranh-viet-nam-bi-giau.html

Chế độ sở hữu đất đai, tại sao không?

Posted on


Nguyễn Đăng *

Sau khi đăng bài báo với tiêu đề nói trên, tôi nhận được tới 100 ý kiến tham gia bình luận. Có không ít người không đồng ý với quan điểm của tôi là thừa nhận đa sở hữu đất đai và trong đó có sự sở hữu tư nhân. Với những ý kiến như vậy tôi muốn quay trở lại lập luận thêm để bảo vệ quan điểm của mình.

Lập luận thứ nhất, tôi coi đất đai mặc dù là tài sản đặc biệt, nhưng không phải vì thế mà đất đai không có đa hình thức sở hữu như các tài sản khác. Sự đặc biệt của đất đai nằm ở chỗ nó là bất động sản, không thể di dời và gắn liền với chủ quyền quốc gia. Nhưng hai đặc điểm cơ bản nói trên không làm cho đất đai không có những đặc tính khác của tài sản. Đã gọi là tài sản, một đặc điểm trước tiên của nó là phải gắn với người chủ sở hữu, trừ trường hợp tài sản đó vô chủ, hoặc bị đánh mất. Không thể có chủ sở hữu chung chung không xác định được chủ, hoặc một ông chủ mơ hồ. Trong trường hợp như vậy không phải là tài sản.

Đã là tài sản thì bao giờ nó cũng mang trong mình nó đủ các loại hình sở hữu. Một khi hạn chế bớt đi một hình thức sở hữu nào đó, cũng như việc chỉ thừa nhận một loại hình thức sở hữu, thì đã tước đi các hình thức sở hữu khác. Vô hình chung anh đã đánh mất đi chức năng vốn có của tài sản.

Lập luận thứ hai, mục tiêu thành lập nhà nước là bảo vệ quyền con người, mà không phải tước bỏ chúng. Không ai bị tước đi sinh mạng, tài sản mà không phải trải qua một quy trình tố tụng đúng luật. Không một tài sản nào bị sung công mà không được bồi thường một cách công bằng. Việc xác định chỉ tồn tại một loại hình sở hữu, cũng như quyền tài sản của ai đó được ưu đãi hơn thì cũng ngang với việc tước đoạt quyền của những người còn lại…. Toàn bộ lập luận này đã được các tác gia triết học từ lâu đã cảnh báo, ngay từ thời Hy lạp cổ đại cho đến cả thời kỳ Phục Hưng và Khai Sáng của Phương Tây.

Cách đây 2.500 năm của thời kỳ Hy lạp cổ đại, nhà triết học Aristotle đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sở hữu tư nhân trong các tác phẩm của ông. Theo ông cho rằng, sở hữu tư nhân sẽ đưa mọi người có cơ hội trải nghiệm giá trị đích thực của tình yêu thương, sự bác ái, là điều kiện vàng và cuộc sống tốt của người dân.[1]

Trong học thuyết của Locke, sở hữu bao gồm: tính mạng, tự do, điền sản. Ông nhắn nhủ các nhà lập pháp phải cẩn trọng vấn đề này, nếu không sẽ có thể đặt mình cũng như nhà nước của mình vào tình trạng của chiến tranh với nhân dân. Ông viết:

“Lý do mà con người gia nhập vào xã hội là sự bảo toàn sở hữu của họ, và mục đích họ chọn & trao thẩm quyền cho cơ quan lập pháp là làm ra các luật bảo vệ sở hữu.

Khi nào các nhà lập pháp cố gắng lấy đi hoặc triệt phá sở hữu của người dân, hoặc khiến họ suy yếu và bước vào trạng thái nô lệ thì khi đó chính các nhà lập pháp này tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh với nhân dân.

Khi cơ quan lập pháp cố gắng nắm giữ cho chính mình hoặc đặt vào tay người khác một quyền lực tuyệt đối, đặt nó trên cuộc sống, tự do và điển sản của nhân dân; thì họ đã đánh mất quyền lực mà nhân dân giao cho, quyền lực đó phải chuyển giao về cho nhân dân, là những người có quyền khôi phục quyền tự do nguyên thuỷ của mình, bằng việc thiết lập một cơ quan lập pháp mới.” [2]

Luận luận thứ ba một khi quy định đơn giản đất đai chỉ có một lọai hình sở hữu toàn dân hoặc sở hữu nhà nước, thì nhà nước đó đã tước đi khả năng sáng tạo của từng người dân. Động lực lớn lao nhất làm cho xã hội phát triển đã không còn. Trong tác phẩm Bàn về tự do của mình, triết gia người Anh J. S Mill giữa thế kỷ XIX đã bàn rất kỹ về vấn đề này. Ông viết :

”… điều rất xấu xa của việc trao thêm quyền lực không cần thiết cho chính phủ. Mỗi chức năng được bổ sung thêm quá mức vào cái đang được chính phủ tận dụng, điều khiển cho ảnh hưởng của chính phủ lên các hy vọng và nỗi e sợ của công chúng càng thêm lan rộng hơn nữa và biến cái mỗi lúc một nhiều hơn cái bộ phận đầy tham vọng của công chúng, làm nó trở nên thành một bọn bám đít của chính phủ, hoặc của đảng phái nào đó đang ngấp nghé trở thành chính phủ”. [3]

Ông còn cho rằng:

“Nếu như đường bộ, đường sắt, ngân hàng, cơ quan bảo hiểm, các công ty liên doanh lớn, các trường đại học và các hội từ thiện, tất thảy đều là các chi nhánh của chính phủ; nếu thêm vào đó, các hội đồng quản hạt và chính quyền địa phương với mọi thứ đang thuộc sự cai quản của họ, đều trở thành các ban bệ của cơ quan hành chính trung ương; nếu như mọi viên chức của các tổ chức khác nhau ấy đều được bổ nhiệm và trả lương bởi chính phủ và ngóng nhìn chính phủ để trông chờ được thăng tiến trong đời sống; nếu mà như thế thì mọi quyền tự do báo chí, hoạt động quần chúng về lập pháp có cơ biến đất nước này cũng như bất kỳ nước nào khác thành đất nước tự do chỉ có tên gọi mà thôi”[4].

Chính vì những định chế này đã lấy đi tính năng động sáng tạo của người dân, ông viết:

“… Sự tai hại bắt đầu, khi thay vì hiệu triệu tính tích cực và năng động của các cá nhân và đoàn thể, nó lại lấy tính tích cực của bản thân nó thay thế cho họ, khi thay vì thông tin và tư vấn, hay đôi lúc lên án, nó lại bắt họ làm việc trong xiềng xích hay ra lệnh cho họ tránh sang một bên để làm thay họ. Cái giá trị của nhà nước về lâu dài, là giá trị của các cá nhân hợp thành; và một nhà nước mà trì hoãn lợi ích làm cho họ được mở mang tinh thần và nâng cao sự thành thục về hành chính lên đôi chút hay một cái gì đó tương tự thu nhận được do thực hành trong hoạt động cụ thể; một nhà nước mà làm cho người của mình bị còi cọc đi với mục đích để họ làm công cụ ngoan ngoãn dễ bảo hơn trong tay mình, dù là vì lợi ích đi nữa-nhà nước ấy sẽ thấy, rằng với những con người nhỏ bé thì chẳng có thể làm được việc gì lớn lao, rằng sự hoàn hảo của cỗ máy mà nó đã hy sinh mọi thứ để đổi lấy, cuối cùng cũng chẳng đem lại được gì cho nó cả, bởi vì nó chỉ cốt nhằm làm sao cho cỗ máy hoạt động được trơn tru mà đã tống cổ cái năng lượng sống động tối cần thiết đi rồi.”[5]

Lập luận thứ tư, trên thực tế cho đến hiện nay, ở các nhà nước có trình độ phát triển cao đều thừa nhận sự hiện diện của đa hình thức sở hữu đất đai trong đó có cả sở hữu tư nhân. Ngược lại, chỉ thừa nhận một loại hình sở hữu đất đai của nhà nước, mà ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, là nguyên nhân cho sự phát triển yếu kém của các nhà nước này.

Nhận xét về kết quả kém phát triển, trong đó có nguyên nhân không thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai, De Soto viết:

“Sự thất bại của hệ thống luật pháp trong việc công nhận và tôn trọng tài sản của người nghèo. Người dân ở những nước chậm phát triển cũng khôn khéo và có đầu óc kinh doanh như người dân ở những nước giàu có. Vấn đề khác biệt then chốt là vì phần lớn họ sống trong những ngôi nhà không phải là chủ sở hữu thực sự. Họ không có quyền pháp lý đối với đất đai, nhà cửa hoặc công việc kinh doanh. Họ không thể sử dụng chúng như những đồ ký quỹ hoặc vay mượn khi cần thiết. Họ cũng không thể sử dụng những dịch vụ thiết yếu như điện, nước. Và nếu họ có tích luỹ được tài sản, họ sẽ gặp rủi ro khi bị những rào cản từ phía Chính quyền.”[6]

Chính vì đất đai là tài sản quan trọng, nên Hiến pháp của nhiều nước thừa nhận quyền sở hữu đất đai của tư nhân, bên cạnh các hình thức sở hữu khác như của cộng đồng, của tập thể, của quốc gia, của nhà nước … Bởi vì rằng:

Mọi quan hệ xã hội có thể quy về quan hệ giữa những đồ vật. Trên tinh thần này bảo vệ quyền con người tức là bảo vệ quyền sở hữu.“Quyền con người đơn giản là một bộ phận của những quyền sở hữu.”

Hiến pháp quy định các quyền cơ bản nền tảng cho chế độ kinh tế: quyền tư hữu tài sản, quyền tư hữu đất đai, quyền lao động, quyền tự do nghề nghiệp, quyền lập hội, quyền tham gia công đoàn, hội họp, quyền tự do kinh doanh là quyền con người, quyền bình đẳng trong các quan hệ kinh tế, giữa các thành phần kinh tế.[7]

Chính việc không thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai, cùng với tất cả các tài sản tư nhân làm tư liệu sản xuất, ở Việt Nam kể từ khi có Hiến pháp năm 1980, cùng với các nguyên nhân khác, đã dẫn đến sự khủng khoảng kinh tế – xã hội vào những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX. Khắc phục tình trạng này buộc Việt Nam phải đổi mới với việc thừa nhận sở hữu tư nhân của Hiến pháp 1992 là một thành công rực rỡ đã đẫn dắt đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội nói trên. Sau một khoảng thời gian phát triển, xã hội hiện nay lại xuất hiện nhiều mâu thuẫn. Có rất nhiều nguyên nhân. Phải khẳng định rằng một trong những nguyên là chính sách đất đai của chúng ta chưa phù hợp. Đất đai sở hữu toàn dân và kinh tế nhà nước là chủ đạo đã góp phần tạo nên sự bất bình đẳng trong các thành phần kinh tế. Một nền kinh thế thị trường không hoàn hảo. Chính những điểm này đã tạo ra biết bao những khó khăn cho hiện tại. Kết quả giám sát của UBTV Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân với quyết định hành chính về đất đai có 50 % trong tổng số gần 1 triệu đơn thư chín năm gần đây có nội dung đúng hoặc đúng một phần.[8]

Với tính cấp bách của việc sửa đổi này nhằm khắc phục tình trạng khiếu nại và tố cáo của người dân, Quốc Hội đã lên chương trình thông qua Luật Đất đai sửa đổi trước cả việc thông qua Hiến pháp sửa đổi. Nhưng rất tiếc rằng dự thảo được đưa ra lấy ý kiến nhân dân vẫn như trước đây, chỉ thừa nhận sở hữu toàn dân, với nhiều lập luận có tính ngụy biện rằng: Để nhằm mục đích không gây ra sự xáo trộn việc sử dụng đất hiện nay, với nhiều quy định nhằm ổn định lâu dài quyền sự dụng đất của người dân, hạn chế quyền thu hồi, trưng dụng đất, trưng mua đất, với việc tăng cường hơn nữa các quyền liên quan đến việc sử dụng đất của người dân, như việc khẳng định quyền sử dụng đất đai là quyền tài sản. Họ lập luận rằng, việc quy định như vậy đã ngang bằng với quyền sở hữu tư nhân… Không những thế, những người bảo vệ quan điểm bảo thủ này còn lập luận, rằng người dân không đòi quyền sở hữu đất, mà chỉ đòi giá đất được đền bù phải sát với giá thị trường. Còn hơn nữa, chính sách đất đai cũng như luật đất đai không sai, mà chủ yếu sai ở khâu áp dụng của các cán bộ thi hành luật[9]…

Tất cả những lập luận này tôi không muốn nói là ngụy biện, nhưng nó làm cho tôi liên tưởng đến Hội nghị lập hiến của Hợp chúng quốc Hoa kỳ khi thông qua và soạn thảo Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới. 55 người con của “thánh thần”, theo cách gọi của T. Jefferson, đã buộc phải chia thành 2 phe chống đối nhau một cách kịch liệt. Một phe ủng hộ bản thảo chỉ gồm có 7 điều chỉ nói về bộ máy nhà nước. Một phe nhất quyết phải có thêm phần quy định về nhân quyền, vì nhân quyền rất dễ bị vi phạm từ chính ngay phía các cơ quan nhà nước. Phe bảo vệ dự thảo khăng khăng khẳng định rằng, việc quy định bộ máy nhà nước bằng cách phân chia, rồi kìm chế đối trọng giữa các quyền, nhân quyền không có cơ hội cho việc vi phạm từ phía nhà nước. Phe chống đối càng kiến quyết hơn, bởi vì họ không thể tin vào ảo thuật ngôn từ của những người soạn thảo. Trước tình cảnh đó các nhà soạn thảo buộc phải viết thêm vào bản Hiến pháp 10 Tu chính đầu tiên, mà ngày nay được gọi là Nhân quyền của nước Mỹ. 10 điều khoản được bổ sung thêm này thành bộ phận không thể tách rời của Hiến pháp Mỹ.

Ảo thuật ngôn từ này phải chăng không giống như thuật chơi khăm của những Trung quốc, Ấn độ hay Do Thaí ngày xưa: Tâm niệm về quy tắc „lộc bất tận hưởng“. Người nông dân Ấn Độ đào được hũ vàng thì lấy que vạch ra một vòng tròn, tung những đồng xu vàng lên trời và tuyên bố „đồng xu nào trong vòng tròn là của tôi, ngoài vòng tròn là của dân làng“. Người nông dân Trung Quốc đào được hũ vàng, thì dùng que vạch ra một đường thẳng, tung những đồng xu vàng lên trời và tuyên bố „đồng xu nào nằm bên trái là của tôi, nằm bên phải sẽ thuộc về người hàng xóm tốt bụng“. Người nông dân Do Thái có một cách phân xử khác, sau khi tung những đồng xu vàng lên trời, ông ta tuyên bố „đồng xu nào bay lên trời là của thượng đế, đồng xu nào rơi xuống đất là của tôi“[10].

Từ thực tiễn này tôi cũng không thể tin rằng cho dù có thêm tới hơn 400 văn bản pháp luật như hiện nay đi chăng nữa, cũng không thể lấp đầy những thực tiễn sôi động, cùng những lắt léo muôn hình vạn trạng, những mánh khóe bắt tay với giới tư bản thân hữu của các quan chức chính quyền hiện nay để làm giàu một cách bất chính trên mảnh đất của người dân, mà đáng lý ra họ phải là người chủ thực sự được đứng ra giao dịch với nguyên tắc dân sự cổ xưa cả Phương Tây và Phương Đông đều áp dụng một cách đơn giản: thuận thì mua, mà vừa thì bán. Trong một nền kinh tế thị trường không thể ai thay được họ làm được chuyện này, chỉ trừ khi được họ ủy quyền trong từng trường hợp cụ thể.

Kết luận

Mặc dù là tài sản đặt biệt, nhưng đất đai vẫn có đa loại hình sở hữu. Cần xem lại sở hữu nhà nước / sở hữu toàn dân, một loại hình sở hữu đã gây ra bao nhiêu rắc rối phiền phức cho người dân, phải thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai là nhân quyền. Có như vậy sẽ có cơ hội cho việc gỡ bỏ những rắc rối kiện cáo hiện nay về lĩnh vực này.

Tháng 5 năm 2013

Sắc dục

Posted on


Đoản văn ĐẶNG HÀ MY
Ơ này thầy.
Hôm qua họ bảo thấy có dải yếm bị mắc trên cây hồng gai. Thầy ngang qua đó, dừng chân dỡ tấm yếm đào xuống, ngẩn ngơ xem quanh đó có ai là chủ nhân mảnh vải vắt vẻo kia.
Nàng ấy vừa tới, nàng cười mê hồn, thế là thật ư? Sao lại như nàng nào xửa xưa? Mà cũng lại như nàng này bây giờ?
Thầy bảo:
– Sao con làm thơ nữa cơ à? Thơ của con, thầy chỉ mang vá áo là vừa đủ. Cái sự là yêu đương nhân thế chỉ là phù du, chưa nói lên cái gì cả.
Rồi thầy phê tiếp: “con ơi, viết thế này…làm ối người khổ, con hãy đoan chính lên chút được không? „
Nàng cãi:
– Sao lại bảo con không đoan chính? không đoan chính thì làm sao làm khổ người khác được, hí hí…
Thầy bảo giống yêu tinh hay cười kiểu ấy.
Thầy sát tà ma, sao thầy lại bảo con là yêu vậy, lũ yêu đâu có dám gần thầy, nó nhìn thấy bóng thầy là bạt vía hết.
Con yêu này cũng giống như những con người khác, nó cũng thèm chiếm đoạt hay ăn thịt Đường Tăng. Nhưng nó thích Đường Tăng phải ra phép thu phục nó trước.
Thầy rầu rầu, cặp mắt gợn bao nỗi ưu tư, lời nói:
– Gặp người như vậy ta vui.
Có cái đụng chạm vào ngón tay xinh trắng ngần như ánh trăng, ngà ngọc nhỉ, tay này con vuốt má ai.
Con yêu thẽ thọt:
-Thầy ơi, thầy là liền ông hay liền bà?
– Ô hay, con cắt gân thầy xem máu có chảy không? Giọng thầy rất chi thuyết phục.
– Vâng, thế thầy cho con hỏi: thầy là lưỡng tính hay thuộc tính?
– Cái ấy hình như tùy theo cảm nhận, thầy cũng như những người khác thôi.
Con yêu chả hỏi nữa, nhưng trong thăm thẳm nó đã lên bảy phép tính cộng cho vía nam và chín phép trừ cho vía nữ rồi.
Thầy mặc áo vàng, nhất định thế, ung dung bước lên đài sen, những cánh hoa mở ra, nhụy cũng thắm vàng, ôi lung linh là lung linh…
Con yêu chợt thở dài, ít nhiều nó cũng có riêng một chiếc kính chiếu yêu bỏ trong bóp, thi thoảng nó vẫn soi thấy cái thiên động của đám người ăn tục nói phét, chuyên đi tâng mình và dìm hàng kẻ khác. Đám nông dân nổi dậy hay thành thị xuống cấp chẳng có gì là lạ với nó.
Quen, quen quá rồi.
Cuộc hành đạo của muôn loài sẽ diễn ra dưới gốc cây Bồ Đề. Những tán lá ấy là những cái chi chi thì nàng chưa hiểu hết được. Nàng chỉ biết bản thân mỹ miều kia có một sức hút kỳ cục, hôm nay chợt lạ như có bao nhiêu lá bồ đề bỗng nhiên đính hết lên người nàng. Có lẽ những vạt lá đang che đậy thân thể của nàng thay thế cho mảnh yếm đào bị gai hồng móc phải.
Bà Hiền, tên là Hiền mà chả hiền tẹo nào, đã không hiền thì cố lành chút đi, chứ lại ngang ngược gọi điện thoại truy nã thầy và nàng, bà ấy rít lên:
– Đệ là đệ tử nào, cái đệ ấy mặt hoa da phấn, má thắm môi hường, nhìn điêu ngoa lắm, không biết thầy có thoát nổi không? hay là bao năm công lực rồi đi tong với nó?
Đám đệ tử của thầy nhao nhác, cắt cử một người nữ đáo để nhất hội, gọi riêng nàng ra chất vấn:
– Này, tôi bảo nhá, cô còn vướng tục trần giai gái, nếu thầy có chút chông chênh thì phải giữ cho thầy, nhiều người cần thầy, thầy là tài sản quí báu, thầy cứu giúp cho thiên hạ, cô phải nhớ…
Nàng ngơ ngác:
– Thầy cứu thiên hạ, ai cứu giúp thầy?
Bà ấy lườm một phát hoàn hảo như thể xé rách tờ thư pháp:
– Thôi, từ rày tôi cấm cửa cô, cô đừng có xuất hiện cửa chùa nữa.
Nàng ấm ức, thế nơi nào giải phóng cho con người ngoài cửa Phật, tâm nàng sáng, sao bị cấm cửa? Nếu bị tà, chọn cửa phật khai sáng có sao, các bà làm quái có chút từ bi nào, làm ơn bỏ cái giọng giả giọng đạo đức đi, cạn nghĩ nhỉ.
Ông Bụt hiện lên, không nói, tiếng gió bay luồn ra cũng là một giọng, không biết nên gọi chính xác của ai:
-Thời nào chả thích đạo đức, thời này lại càng phải đạo đức, không tụng mõ có mà sập hết, ai cứu ai được. Dở ẹc, quan tham mà dân không gian thì hóa lại ngược, nhưng cũng chả nên nghĩ vậy, phải tội đấy, cứ đổ hết tội sang nhau.
Chú Cuội kia còn biết thương Hằng Nga lạnh lẽo, còn biết thổi sáo gọi trâu, mình thổi cái đám tù và, rúc lên toàn những đọa.
Phiền, phiền từ ngày ấy.
Nói gì thì cũng phải mang tính thuyết phục, thuyết như thế, hóa ra gây toàn tác dụng phụ.
Đã vậy, nàng sẽ làm theo kiểu của nàng, vì nguồn cơn tò mò cái tục lụy của người đời đấy nhé. Chả phải do nàng, nhất định không.
Thế rồi nàng bị ông trời đẩy sang phương trời lạnh lẽo, nàng phải cắt đứt cái dở dang như người ta đang thèm của chua trong cơn nghén nặng.
ĐHM, HN tháng 5. 2013

Bản lĩnh và bản lĩnh chính trị, có cần không?

Posted on


Luật sư Nguyễn Văn Đài

Bản lĩnh là gì?

Bản lĩnh là sự tỉnh táo cùng với ý chí kiên cường, bất khuất của một con người trước mọi hoàn cảnh như bị cám dỗ, dụ dỗ, khích tướng, đe dọa, khủng bố, tra tấn… nói chung là áp lực từ bên ngoài buộc người đó phải thay đổi quan điểm, lập trường.

Bản lĩnh chính trị là gì?

Bản lĩnh chính trị của những người hoạt động cho dân chủ và nhân quyền là sự cương quyết kiên định với những gì chúng ta đang làm – vốn là chính nghĩa, là phù hợp với quyền con người trong Hiến pháp, phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với quy luật phát triển dân chủ, tiến bộ của xã hội Việt Nam.

Bản lĩnh chính trị của mỗi con người do nhiều yếu tố tạo nên. Yếu tố cơ bản hàng đầu là sự nhận thức đúng đắn của mỗi chúng ta về quyền con người, về khát vọng tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam. Sự cần thiết phải tiến hành đấu tranh chống lại giặc nội xâm – nạn tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống, những bất công trong xã hội và hệ thống chính trị lạc hậu, phi dân chủ.

Bản lĩnh chính trị tạo nên sức mạnh, uy tín cho mỗi con người. Nó đảm bảo cho mỗi chúng ta và cả tổ chức vượt qua mọi thử thách, cùng với nhân dân đấu tranh dành quyền tự do, dân chủ và nhân quyền cho mọi người dân.

Sự tấn công, sách nhiễu, thẩm vấn của cơ quan an ninh đối với những người hoạt động dân chủ và nhân quyền sẽ giúp cho mỗi chúng ta có thêm kinh nghiệm, nâng cao được bản lĩnh chính trị. Đó là những thử thách mà mỗi chúng ta phải vượt qua. Chúng ta chỉ có con đường duy nhất là tiến về phía trước và đi đến thắng lợi cuối cùng.

Bản lĩnh chính trị của mỗi chúng ta không tự nhiên mà có, mà nó được hun đúc, hình thành và thử thách qua thực tiễn đấu tranh. Nó cũng được đúc kết, rút tỉa từ kinh nghiệm của những người đi trước, từ những người bạn, từ những đồng nghiệp của chúng ta.

Tại sao chúng ta cần bản lĩnh, bản lĩnh chính trị?

Không có bản lĩnh chính trị thì sẽ không có gì thay đổi. Nếu thấy tham nhũng, thấy sự lạc hậu và bất công trong xã hội mà chúng ta không dám lên tiếng, không dám đấu tranh để loại bỏ những điều đó thì xã hội không thể thay đổi và không thể phát triển dân chủ, tiến bộ được.

Nếu chúng ta không có bản lĩnh mà dấn thân vào đấu tranh thì khi bị sách nhiễu, bị bắt giữ, bị thẩm vấn, chúng ta sẽ không giữ được lý tưởng trong sáng và con đường chính nghĩa mà chúng ta đã lựa chọn. Từ đó đầu hàng, nhận những tội mà mình không có, điều này là tự làm ô nhục bản thân, gia đình, làm thiệt hại đến tinh thần của tổ chức và cả phong trào dân chủ.

Nhân dân và Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta cần rất nhiều những con người có bản lĩnh, có khát vọng tranh đấu cho tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đất nước của chúng ta cần phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu và khát vọng tự do của mỗi người dân.

Nguy cơ chúng ta trở thành nô lệ cho ngoại bang và nguy cơ chúng ta mất hết chủ quyền quốc gia đối với biển đảo đang ngày càng rõ nét. Hơn lúc nào hết, Tổ quốc và nhân dân kêu gọi mỗi chúng ta dấn thân hơn nữa trong cuộc đấu tranh, vận động dân chủ hóa đất nước, đem lại quyền lực về tay nhân dân. Từ đó giúp cho đất nước của chúng ta có thể tạo các mối quan hệ đồng minh, bạn bè để xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2013.

Nguyễn Văn Đài