Month: Tháng Mười Hai 2012

LAN MAN…CHUYỆN NHẶT (ii): DƯỜNG NHƯ EM KHÔNG TỰ GIÚP MÌNH

Posted on Updated on


Trở lại câu chuyện ở cái quán cà phê be bé của ta, chả là sau khi mở ra ta rao tuyển người trên cái mạng in tờ nẹt. Có 1 cô gái điện thoại gặp ta xin làm, trước khi mời cô đến ta vừa thật vừa giả, em thấy nhan sắc em thế nào? Dạ, cũng ổn ạ. Vậy em đến đi gặp nhau trao đổi cụ thể.

Hà Nội, một chiều thu nắng hoe vàng nao núng, đến giờ hẹn ta đón tiếp em, nhan sắc em không ổn như em nói, ta nghe được, em vừa học xong ĐH Văn Hóa, ồ, sao em không đi làm đúng ngành học? Dạ, mẹ em bảo về quê xin vào công chức nhưng chưa được nên em không về, quê buồn lắm anh ạ, ở HN em cũng chưa xin được việc gì. Ô thế à, thế cái lão Phạm Duy cũng cùng dòng “văn hóa” với em đang yên lành tận thiên đàng trần gian (Hoa Kỳ ấy) sao nằng nặc về quê lúc tuổi đã xế chiều nhỉ?

Ta nhận em, ngày đầu tiên ta nói với em, hoàn cảnh em như vậy, nhà nghèo, phương tiện đi làm không có, quê em lại…buồn thế, nên em xác định tập trung làm đây cũng không tệ và nên chuyển chỗ ở gần hơn, có thể tăng ca làm việc, em bảo, thôi em ở trọ đấy từ thời SV quen rồi, vui lắm (em ở đầu tp, đi làm cuối tp). Uh, vậy tùy em. Vui là nhất rồi.

Em đi làm vài ngày, một hôm, đang làm bỗng em hốt hoảng, anh ơi em xin về quê, ông em sắp mất, rõ khổ, em về đi. Ta lẩn thẩn nghĩ, sao ông em chết nhanh thế nhỉ? Tuần sau, anh ơi, em xin về quê cưới chị, uh, về thôi biết làm sao. Lâu lâu sau, đang làm, em phải nhập viện đột xuất vì đau bụng, em xin ứng lương, làm sao không ứng cho em được, rồi ta phải thân chinh vào viện thăm em, âu cũng là tình nghĩa mới quen. Có lần, em đi phỏng vấn nơi khác, nghe đâu chạy bàn ở 1 khách sạn, em bị out ngay vòng đầu, chắc tại em không xinh xắn cho lắm, hôm sau thấy em buồn lắm, buâng khuâng, ngơ ngác, lây cả nỗi buồn sang ta. Mà ta thì ghét kiểu đó lắm.

1 ngày ta chia ra 3 ca, em đảm nhận 1 ca, nhiều lần ta gợi ý, sao em không xin làm thêm nơi khác, thời gian thừa thãi đó thôi, vâng, nhưng em ngại làm cả ngày lắm anh ạ. Có thời gian ngắn, em ăn trưa cùng gia đình ta, bữa nọ, vợ ta vắng, em nấu hộ, nhưng bữa đó, dường như ta ăn trong cảm nhận món ăn được chế biến thô dại giống ngày ta còn thơ bé, gia cảnh nghèo nàn, từ đó ta bảo vợ ta, thôi đừng nhờ em nấu nữa nhé. Tháng nào, em cũng xin ta tạm ứng lương cho dù chưa đến kỳ thanh toán. Luôn luôn, ta vẫn thấy hiển hiện lên trên gương mặt em nỗi âu lo, vô vọng và khắc khổ. Ta bỗng dưng bị lây cái tâm trạng buồn, như vốn dĩ cuộc đời người nó vậy.

Gần đây, ta thấy em ngơ ngẩn hơn, nhí nhoáy fone suốt, ôm ấp computer nhiều hơn, hỏi ra ta biết, em mới có người iu, ồ vui quá, chúc mừng em, nhưng vợ ta bảo, ôi chao, cái ông ấy nhìn chả giống ai, đen đen, bẩn bẩn. Tội thế.

Kinh doanh, phải nghĩ tăng doanh số, tăng lợi nhuận, ta nảy ý định dấn thêm đầu tư, ta nghĩ đến nhân sự, ta cần củng cố nhân sự, ta gọi em ra nói chuyện, hỏi em mục tiêu, kế hoạch tới đây thế nào? nhu cầu ra sao? lương thế này sống làm sao? Em bảo, em cũng không xác định làm lâu, có thể kế hoạch của em chỉ là đến tết, với lại, ở chỗ em các bạn cũng sống như vậy, giống như thời sinh viên thôi anh ạ. Ồ, sao lạ vậy?

Các cụ ta dạy “giúp được ngặt, chả thể giúp được nghèo”, ta đành ngậm ngùi gạt em ra khỏi kế hoạch tiếp theo.

DƯỜNG NHƯ EM CHẲNG TỰ GIÚP MÌNH?

hoadainhan

LAN MAN…NHẶT CHUYỆN (i): NÓ HÈN…HÈN QUÁ

Posted on Updated on


Dịp này tự dưng ta lại thích ngí ngoáy, có thời kỳ ta viết rất khỏe, nhớ, lúc trước có 1 cô BTV 1 tờ báo nọ, có đề tài gì cần “chửi” mà cô ấy mới manh nha chủ ý là bốc máy gọi cho ta “đặt hàng”. Nào là chửi những thằng vừa ngu, vừa tham lam xẻo đất công viên làm khách sạn, nào là chửi vụ sữa nhiễm độc Melamine, chửi Hà Nội lần đại lụt…Có thời, cả năm chịu không viết được 1 câu. Thảo nào, cái nghiệp cầm bút nó bạc, nó khó và nó đếch sai bảo được. Thế mà, ở xứ ta có người định lập trường đào tạo nhà văn mới khiếp chứ?

Tiện đây, ta lan man vài câu chuyện nhặt được trên đường, ngõ hầu hầu chúng bạn.

BÁI PHỤC.

1 lần ta đi taxi, vào trong xe thấy 1 chàng tài xế khá ổn, to, cao, sáng sủa, xe chạy được 1 đoạn, chàng ta bắt chuyện rất tự tin, “chắc anh đi dạy về”? ta nói, uh, tham gia tí chút cho vui vẻ & thay đổi không khí. Chàng ta kể, đến nay, chàng ta cũng có thâm niên dạy học đến gần 15 năm rồi, hiện vẫn đang dạy ở 1 trường trung học, nhưng ngần ấy năm đi dạy, gia đình chàng ta vẫn bao phủ bởi sự lận đận, khó khăn đến muốn mua 1 cái tivi phẳng cũng k có tiền. Trước thực trạng đó, đầu óc chàng bắt đầu cựa quậy, tâm can chàng bắt đầu có hỏa bốc. Năm 2010, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long –HN, sự kiện này được các báo đài nhà nước tung hô k khác gì sự kiện ngày tận thế của trái đất hiện thời, chàng ta nảy ra, rồi nung nấu ý tưởng kiếm tiền từ sự kiện đó. Chàng phán đoán, sẽ tràn đầy khách du lịch về HN dịp này, tất họ phải ăn, phải uống và chàng ta chọn bia HN làm món hàng kinh doanh, nói và quyết làm, chàng vét túi, vay mượn vốn ôm thật nhiều bia HN cất trữ, thuê cả kho cất hàng mấy khiếp chứ, thế rồi dự báo của chàng ta thành hiện thực, bia bán cháy hàng, chàng ta kiếm được 1 món kha khá, hơn nhiều một thập niên đi dạy học. Không dừng lại, đầu óc chàng lại xoay tiếp, chàng thu vốn, lãi, vay thêm mua 1 con xe 4 chỗ Huyndai và học lái xe chạy Taxi. Kể từ đó, chân đứng lớp, chân đạp ga cứ thế chàng tiến, chàng nói riêng khách học sinh của chàng cũng kha khá vì chàng tiếp thị, có lần, mở cửa ngồi sau tay lái, khi học sinh đến gần xe thấy thầy lái, nó bỏ chạy, từ đó chàng đóng im ỉm cửa nếu khách là học sinh. Tại thời điểm gặp ta, chàng bảo, giờ thì em khá rồi, chả phải lo gì tiền bạc, nhà to, có cả đất khác nữa, nhưng em lại đang tính kế khác.

Ta bái phục anh chàng này.

NÓ HÈN… HÈN QUÁ.

Lần nọ, bên cạnh bàn rượu của ta có 2 ông đang say sưa uống và say sưa nói, họ đều là dân “Hà lội gốc”, uh thì cứ nói như thế, chứ gốc Hà Nội cũng là gốc lúa nước và gốc thợ thuyền ta cả. Không phải ta cố tình hóng hớt, nhưng cái âm thanh ở quán uống nó vốn chẳng bao giờ là nhỏ cả, nên ta nghe được câu chuyện của họ, nghe vẻ gia cảnh các ông cũng khá lắm, 1 ông thưở nhỏ nhà ở phố Đinh Tiên Hoàng, giờ mà mua 1 m2 ở đấy có mà bán hết cả cái làng cũng không đủ, ông kia kể, ngày trước nhà ông có cả tá người ăn, kẻ ở, vú em riêng, thằng sốp phơ riêng, con dọn dẹp riêng, đứa nấu ăn riêng thế nhưng, bữa ăn chỉ có bố ông và mấy thằng con trai được ngồi chung mâm, còn lại lũ đàn bà đừng có mon men, nhưng dứt khoát sắp cơm, bưng cơm, đơm cơm là phải vợ ông đích tay hầu ông. Ông bảo, loại nào ra loại ấy, không như ngày nay, chủ không ra chủ, tớ chẳng ra tớ, con vợ kệ xác bà hay con Ô sin làm tuốt, từ giặt, gấp đồ lót cho chồng, đến chợ búa, nấu ăn, thế cho nên đến nỗi nó làm nốt cái việc là ngủ luôn với ông chủ. Vợ chồng ông hiện giờ chỉ có mỗi 1 đứa con gái, nên nàng được ông lo lắng lắm, ông cho nó du học trời đông, giờ về nước đi làm ở 1 cơ quan “nhớn” đó là tờ báo “Nhân rân”, tờ này mà trải ra làm mâm chứa lòng lợn hay thịt chó thì tuyệt ra phết vì nó in khổ lớn kỳ quái. Làm ở đây, nàng ta quen 1 chàng trai, không phải “gốc Hà lội”, chàng là dân tỉnh đang long tong, sai vặt ở cơ quan, nghe đâu thỉng thoảng cũng có vài chữ được in trên báo, chàng ở nhà trọ, ăn cơm đầu đường, thế rồi chàng và nàng có tình ý, chàng theo đuổi nàng. Năm tháng trôi, gia đình nàng biết chuyện, ông bố ra mặt phản đối, đến mức kỳ thị, ông lên tận cơ quan của nàng gặp sếp nàng (là người quen ông), tuyên bố phải can thiệp để cái thằng ấy đừng í ới con gái ông, nhà ông bắt đầu sôi sục, nàng phải dọn ra ở cùng người bà con cho đỡ căng thẳng. Lúc ông đang phừng phừng nói ở đây, là lúc mà tình hình có vẻ gay cấn lắm, bà mẹ nàng, trớ trêu thay lại đứng về phía nàng giục cưới nhanh nhanh (ông bảo đúng là đồ đàn bà đái không qua ngọn cỏ), nàng thì dùng dằng, chưa máu cưới cũng chả nói thôi, theo ông, cái thằng đó, nó toàn chat chit đêm khuya, làm cho nàng mủi lòng nên cứ dùng dằng, ông tức lắm, ông chửi thề. Ông tuyên bố, nếu ai thích cưới cứ cưới, ông thì không, nghe ông thì ông cho tất, không nghe coi như chết rồi. Nghe ông lý giải, thì ta hiểu ra mấy nhẽ mà từ đó ông quyết chiến để giành giật con gái khỏi chàng kia, ông toàn gọi hắn là thằng. Thứ nhất ông bảo ông biết xem tướng, cái thằng đó tướng mạo bần hàn, không làm nên cái thớ gì; thứ 2, nó chẳng có cái cóc khô gì, cứ cho là cưới rồi nó chui gầm chạn nhà tao thì tao cũng không thể ở chung và nhìn thấy nó bởi nó làm sao tương đồng văn hóa với tao, không bao giờ; nếu nó đủ điều kiện cưới, nuôi được vợ, tao cho cưới ngay hoặc giả tao cho chúng mày sống thử với nhau 1 năm xem liệu có sống nổi hay không; Thứ 3, có lần nó mang quà đến biếu, tao lịch sự gửi lại quà tặng bố, mẹ nó, mời nó ra quán đánh chén, nhưng nó rúm ró, nói không được nên câu, trước mặt tao, ăn không dám ăn, uống k dám uống, cái thằng đàn ông như thế chỉ mãi làm cu li; thứ 4, tao có nhiều mối quan hệ, kiếm được thằng rể ra hồn, tao vác nó đi giới thiệu để nó làm ăn, nhưng cái thằng này, nó chẳng chí hướng gì.

Tóm chặt lại, ông tuyên bố kiên cường, cái thằng đó, nghèo còn cho qua nhưng NÓ HÈN…HÈN QUÁ.

Ta thấy mặt ông ấy đỏ au, hình như đường tĩnh mạch cổ nổi lên to tướng.

hoadainnhan

Người Hà Nội gốc?

Posted on


Về đại thể, lối sống Hà Nội vẫn phản ánh nền văn minh nông canh nghìn năm tuổi pha trộn với chút thị thành.

“Mấy thằng nhà quê này có nhanh lên không!”. Người lái chiếc xe ôtô đen nhẫy quát mấy người đang gò lưng kéo xe đầy gạch ngược dốc.

Thấy thế, bạn tôi, thổ dân của một trong những ngôi làng cổ thuộc một trong bốn quận nội thành đầu tiên của Hà Nội, lắc đầu: “Tay ấy là người làng tôi vừa bán bớt đất có tiền mua ôtô. Thật chẳng ra làm sao cả”. Tôi an ủi anh: “Thường vẫn thế, kẻ vừa thoát nghèo lại hay khinh rẻ người nghèo, cũng như kẻ vừa thoát áp bức thường quay lại… áp bức đồng loại!”

Làng anh xưa kia từng là nơi có trường luyện quân của triều Lý rồi Trần. Như vậy, những gia đình ở đây đều là hậu duệ của những thần dân từ thời Rồng bay lên. Chắc không ai nói họ không phải người “Hà Nội gốc”.

Thì ra ngay trước mặt tôi đã có hai ‘phiên bản’ rất khác nhau của’gốc’.

Ngụ cư

Làng quê Việt Nam phân biệt dân ‘chính cư’ bản địa với dân ‘ngụ cư’. Người ngụ cư bị phân biệt như kiểu phân biệt ‘có hộ khẩu’ với ‘không có hộ khẩu’ ngày nay. Họ gần như bị gạt ra ngoài rìa cuộc sống cộng đồng và hầu như không được tham gia hoạt động quan trọng của làng xã như dân bản địa.

Nếu có, khá lắm thì được giao chân “mõ” chỉ để hầu hạ các vị chức sắc mỗi khi có việc làng. Thường họ phải làm nhà ở những chỗ đất ở rìa làng – mà người bản địa gọi là ‘đất chó ỉa’. Con cái dân ‘ngụ cư’ cũng không được ngẩng cao đầu.

Khái niệm ‘người Hà Nội gốc’ phân biệt với ‘người không phải gốc’chắc xuất phát từ nếp sống nông thôn như thế từ thời xưa.

Bất kể người ngụ cư có làm rạng danh cho làng xóm, họ vẫn cứ bị coi là thứ dân. Dân bản địa dù là ‘chân đất mắt toét và thô lỗ’ vẫn vênh vang là dân ‘chính cư’. Cái tư duy ấy dường như không xa lắm với sự cố chấp trong câu ca dao “… /Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”? Chẳng nên hãnh diện theo lối ấy.

Dăm bảy loại gốc

Quay lại nơi bạn tôi sống, cái nếp “tối lửa tắt đèn có nhau”, “một điều nhịn, chín điều lành”, … của làng quê châu thổ sông Hồng đang dần trở thành của hiếm. “Tình làng nghĩa xóm” nơi đây đã trở thành một khái niệm xa lạ. Anh bạn tôi buồn rầu kể ở đây người ta nói năng chẳng cần giữ ý, chửi con cháu bằng đủ các loại ngôn từ.

Cái ghê sợ hơn là mỗi khi khạc nhổ, xi con cháu ỉa đái, họ đều ra ngõ để… thực thi mặc dù trong nhà đã có toa-lét tân thời. Mỗi sáng khi quạt bếp than tổ ong, họ đều mang ra ngõ để quạt… cho khói khỏi vào nhà mình.

Một góc phố cổ Hà Nội
Thế nhưng họ rất quyết liệt trước mọi sự ‘ngoại lai’. Gia đình một bà giáo về hưu đến mua đất trong làng để làm nhà ở cho nó thuần. Sau khi gia đình dỡ nhà cũ nát và chuẩn bị làm nhà, chính những người làng lại gây khó dễ không cho làm, cuối cùng đành bán lại chịu thiệt. Vì sao? Chẳng vì sao cả, chỉ vì không thích!
Còn đây nữa, người cùng cơ quan tôi, là một ‘gốc’ khác, đời thứ năm sống trên phố lớn ở Hà Nội. Cha anh là một kĩ sư và nhà tư sản công nghiệp thời Pháp thuộc. Một lần anh rủ tôi về quê nơi xưa anh sơ tán. Anh khoe: “Về đây cứ yên trí có ‘cơm no bò cưỡi'”. Tôi băn khoăn: “Thời thiếu đói thế này về chỉ làm phiền thêm người ta thôi.” Đó là vào những năm 1980, khi Hà Nội “không có gì”.

Chủ nhà, một người họ xa với anh, niềm nở đón “các chú trên Hà Nội” về chơi và sai con đun nước rồi bắt gà mổ thịt. Trong khi đợi cơm, anh mang súng hơi đi bắn chim trong làng. Trưa về đã thấy mâm cơm với đĩa thịt gà đợi. Trong khi đó bác chủ gái đi làm đồng về và mấy đứa con đã ăn dưới nhà ngang để rồi chiều lại đi làm.

Là người ‘bám càng’, tôi vô cùng ái ngại nhưng anh nháy mắt tỏ ý không có vấn đề gì. Sau tôi mới biết đó là con gà mái duy nhất của nhà đang đẻ trứng. Cơm no rượu say xong, anh ngáy một giấc ngon lành. Trước lúc về anh khéo miệng chào bác chủ: “Em có quà cho hai bác và các cháu. Cái này là đặc sản Hà Nội.”

Trên đường về anh khoe: “Chỉ mất gói kẹo dồi mà đươc một ngày thoải mái”. Hơn chục con chim sẻ anh bắn được treo lủng lẳng trên ghi-đông chiếc xe cuốc theo anh về Hà Nội. Lần sau anh lại rủ, tôi không dám đi nữa. Tôi không gặp lại anh từ đó và chỉ nghe bây giờ anh kinh doanh đồ sứ vệ sinh rất phát đạt, nhưng sự ái ngại thì vẫn còn nguyên trong tôi.

Hà Nội có nhiều thành phần lắm. Vào những năm 1955-56, một số không nhỏ những rễ, chuỗi, …[[1]] không dám nhìn mặt bà con làng xóm vì trót tố điêu, từ nhiều nơi phải bỏ làng chạy về Hà Nội. Đến nay, con cháu họ cũng là “người Hà Nội gốc”…

Những hành xử kể trên thuộc tính cách từng người riêng biệt không đại diện cho Hà Nội, cũng như tính cách “thanh lịch, nhã nhặn, v.v …” cũng mang tính cá nhân không đại diện cho và không chỉ thuộc về Hà Nội.

Lối nói sáo mòn

Người Việt có một số câu nói công thức (cliché). Hễ cứ “Hà Nội” là nhất định phải đi với “thanh lịch”, “X” dứt khoát phải đi với “bách chiến bách thắng”, “Y” dứt khoát phải phải đi với “vĩ đại”, “Z” dứt khoát phải đi với “sáng suốt”, v.v…

Cách dùng từ lối này mòn đến mức thậm chí xuất hiện một cách vô thức trong tình huống không phù hợp. Tại hội thảo khoa học, khi nói về ô nhiễm môi trường đô thị có người còn nói: “Các chỉ số ô nhiễm tại Thủ đô Hà Nội trái tim thân yêu của cả nước đang ở mức cao”. Vừa thừa vừa thiếu, lẫn lộn văn phong.

Đã có quá nhiều lời bình theo lối ‘tụng ca’ một chiều với đầy những cụm từ cố định ấy, tương tự như:

“Truyền thống ‘Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An’ là tinh hoa tích tụ từ hàng nghìn năm, từ trăm miền đất nước bồi đắp nên nét đẹp văn hoá Thăng Long – Hà Nội đáng quý, mang đậm giá trị của sự lịch lãm, tinh tế, hào hoa, mềm mỏng, thông tuệ, nghĩa hiệp, nhân ái, tôn trọng kỉ cương, luật lệ và phép nước…”[[2]]

Ai không tụng niệm theo hoặc nói khác rất có thể sẽ bị đám đông a dua chụp cho vài cái mũ và…ném đá.

Trên thế giới, những nhận xét như “người Đức khô khan”, “người Anh lãnh đạm”, “người Pháp hay khoe khoang”, … cũng chỉ là những nhận xét đầy cảm tính.

Mặc dù London nay gần 2000 năm tuổi, người London không ngồi một chỗ tự khen đuôi mình dài, hay rùm beng khoe tuổi của thủ đô, mà họ quan tâm đến những việc làm cụ thể để nâng tầm thủ đô của họ lên. Sau 1000 năm, nếu Hà Nội không lớn lên mà vẫn chỉ là cái làng-phố thì có nghĩa là nó chỉ già đi thôi.
Những phát biểu mang tính ‘quen miệng’ theo đám đông mà thiếu suy xét, phân tích sẽ sinh ra ngộ nhận, hàm hồ và chụp mũ.

Hà Nội không phải lúc nào cũng ‘thanh lịch’, ‘hào hoa’. Câu nói “trai Ngõ Trạm, gái Tạm Thương” ám chỉ thói hống hách cửa quyền, tai tiếng thời xưa là một ví dụ.

Những tính đặc thù của Hà Nội mà nhiều người vẫn tụng ca là gì nếu không phải những đặc tính tốt đẹp chung, thừa hưởng của văn hóa châu thổ sông Hồng? Những câu nói nhún nhường, lịch thiệp như: “Xin đỡ lời cụ”, “Dạ, rước bác vào xơi nước”, v.v… là những lời tiếp chuyện, chào hỏi của người xưa và đến nay vẫn còn ở nhiều miền quê.

Những đặc điểm “thanh lịch”, “hào hoa”,… mang dáng dấp thị thành không nên khái quát hóa cho cả một cộng đồng từ xa xưa đã là nơi tụ hội “người tứ xứ”. Hơn nữa, như các tác giả khác đã nhận xét [[3]], cái phần “váng” đó chỉ thuộc một tỉ lệ vô cùng nhỏ trong Hà Nội vốn là một “biển nông dân”. Và do vậy, khó có cái gọi là “tính cách Hà Nội”.

Về đại thể, lối sống Hà Nội vẫn phản ánh nền văn minh nông canh nghìn năm tuổi pha trộn với chút thị thành [[4]].

Có nên khoe cái gốc già?

Xin dẫn thêm một chuyện có thực tại một khoa thuộc trường đại học nọ. Ở đó, họ chia thành hai “phe”, một phe là “Hà Nội gốc” và một phe là “cam-pan-nha”[[5]] (nhà quê). Thế là hai phe tranh giành nhau từ cái chức quèn đến giờ dạy thêm, phe nào cũng học hàm học vị cao ngất.

Điều nực cười là nhiều người trong phe “Hà Nội gốc” quên khuấy rằng họ xuất thân từ những gia đình lang bạt mới dạt về Hà Nội khoảng những năm 1950.

Không biết ở nơi khác ra sao, còn ở khoa vừa kể việc tranh cãi về “gốc” đã thành tại họa như thế đó. Đúng là trò cười đáng xấu hổ.

Thay cho sự luẩn quẩn đó, ta hãy nghĩ phải làm gì và làm thế nào cho rạng danh Hà Nội. Viện đến ‘gốc’ là việc làm của người yếm thế kiểu AQ.

Cũng như vậy, truyền thống lâu đời cũng là một điều đáng tự hào trên thế gian. Tuy nhiên nếu chỉ ỷ vào nó mà không làm gì cho xứng với cao niên thì cái cao niên ấy cũng thật ít ý nghĩa.

Mặc dù London nay gần 2000 năm tuổi, người London không ngồi một chỗ tự khen đuôi mình dài, hay rùm beng khoe tuổi của thủ đô, mà họ quan tâm đến những việc làm cụ thể để nâng tầm thủ đô của họ lên. Sau 1000 năm, nếu Hà Nội không lớn lên mà vẫn chỉ là cái làng-phố thì có nghĩa là nó chỉ già đi thôi.

Lớn tiếng về tuổi tác cần đi với những thành tựu tương xứng, bằng không điều đó chỉ có nghĩa “Tôi già hơn anh” – chỉ làm cây bonsai cho ai tưới sao thì tưới chăng?

Ai là người Hà Nội?

Có người làm xấu Hà Nội đi bằng những việc làm không đẹp. Có người làm cho Hà Nội đẹp thêm và hãnh diện hơn …

Nhiều danh nhân xưa sống và làm việc để làm rạng danh cho Hà Nội là người từ ‘tỉnh lẻ’ – từ các bậc vua chúa dựng nước đến các danh nhân văn hóa, nhà khoa học thời nay.

Ở thế giới vĩnh hằng, họ nhất định vẫn nói: “Tôi quê ở …” với niềm tự hào về quê hương tỉnh lẻ của mình, nhưng đã làm rạng danh cho Thăng Long- Hà Nội và cho đất nước.

Người làm cho Hà Nội đẹp hơn, văn minh hơn, có tầm tri thức cao hơn, để ngẩng cao đầu và sánh vai với thủ đô các nước là NGƯỜI HÀ NỘI – viết hoa.

Nguyễn Phương

[1] Tô Hoài. Ba người khác, Tiểu thuyết. NXB Đà Nẵng, 2007.

[2] Phạm Như Hùng. Thanh lịch, văn minh, hào hoa là văn hoá người Hà Nội.

[3]

[4] Văn Ươn. Hà Nội – một cái chợ ven đô.

[5] Tiếng Pháp: campagne = nông thôn

Cử nhân quê tôi!

Posted on Updated on


Đất nước lâm ly thời khủng hoảng, vả lại bản tính thích “đánh đu” với đời, ta mở 1 cái quán cà phê nho nhỏ, xinh xinh ở xứ Hà Thành (người ta vẫn gọi là địa danh ngàn năm văn hiến với 1 niềm tự hào vô biên đến mức gọi Rùa Hồ Gươm là “Cụ”).

Phàm là mở kinh doanh, tất phải tuyển người, ta cứ ngỡ, hiện thời, thất nghiệp tràn lan đầy đường thì việc thu nạp nhân lực không hề khó. Thế nhưng ta đã nhầm.

Đọc tiếp »

Lão tử chương 81: Hiển chất

Posted on


1. Tín ngôn bất mỹ. Mỹ ngôn bất tín. Thiện giả bất biện. Biện giả bất thiện. Tri giả bất bác, bác giả bất tri.
2. Thánh nhân bất tích. Ký dĩ vi nhân, kỷ dũ hữu. Ký dĩ dữ nhân, kỷ dũ đa. Thiên chi đạo, lợi nhi bất hại. Thánh nhân chi đạo vi nhi bất tranh.

Dịch xuôi:
1. Lời chân thành không hoa mỹ. Lời hoa mỹ không chân thành. Người tốt không tranh biện, người tranh biện không tốt. Người biết không học rộng, người học rộng không biết.
2. Thánh nhân không tích trữ. Càng vì người, mình càng có. Càng cho người mình càng thêm nhiều. Đạo trời lợi mà không hại. Đạo thánh nhân làm mà không tranh.

Dịch thơ:
1. Lời ngay giản dị, tầm thường,
Những lời xảo trá, văn chương mỹ miều.
Người làm, chẳng biện luận nhiều,
Khéo chiều biện luận, lắm điều gian ngoan.
Trí cao chẳng bác, chẳng tham,
Càng tham bác lắm, là càng ngu si.
2. Thánh nhân chẳng súc tích gì,
Càng cho càng có, càng chi càng giàu.
Trời kia nào hại ai đâu,
Thánh nhân nào có tranh nhau với người.
Huy Minh dịch
Hoadainhan sưu tầm

NHÂN ĐỌC BÀI “NGOẠI GIAO ĐẠO ĐỨC KINH”

Posted on


Như anh HM nói, sách của Lão Tử mang màu sắc triết học, học thuyết Mác – Lê nin cũng nói, mọi sự vật, hiện tượng đều có mâu thuẫn nội tại, đều có quá trình ra đời, phát triển, diệt vong, xét cho cùng mọi thứ triết lý, mọi vấn đề khoa học đều có lỗ hổng, đều có điểm yếu, chính điều đó, để nó đã hàm chứa những yếu tố cho sự “chết” để cái mới nhen nhúm, lớn lên, rồi thay thế.
Ở đây, có lẽ trong cả 1 mớ luận thuyết của Đạo đức kinh, tác giả muốn tìm ra, khai thác yếu tố tố hợp thời nay, vận dụng vào thời nay, xét như vậy hoàn toàn đúng đắn. Sự diệt vong – theo học thuyết Mác -Lê nin, tôi hiểu nó không phải hoàn toàn mất dạng khỏi thế giới vạn vật, 1 phần của nó vẫn tồn tại đâu đó, đó chính là phần hợp thời, hợp thế.
Cho dù đứng trên phương diện toàn cầu hóa, hội nhập thì ngoại giao, trong lịch sử và hiện thời vẫn có bổn phận trước tiên là mang lợi ích về cho quốc gia, dân tộc, sau đó mang về cho phe nhóm của mình (nói như dân gian là cùng hội, cùng thuyền). Bên cạnh đó, ngoại giao không thể bỏ qua thuộc tính muôn thuở của nó, đó là phải căn cứ vào thế, vào thời.
Tôi có đọc 1 bài nói vị thế của VN hiện nay đã khác hẳn cái lúc mà Miến Điện chưa cải cách, chuyến thăm của Obama đến Miến Điện dường như là gáo nước lạnh hay to tát hơn là quả bom dội xuống đầu các “nhà” ngoại giao nước ta, cái thế trung chiêng giữa Mỹ và TQ của VN đã mất, cái kiểu ngoại giao ưỡn ẹo của VN với Mỹ đã hết thời, cũng như cái kiểu già mồm, hung hăng, làm mình làm mẩy với TQ cũng theo đó tiêu luôn. Rõ ràng là nan giải. Nhưng tôi nghĩ, cô gái điếm VN hiện nay, không có lựa chọn nào khác, lựa chọn nào tốt hơn là ngả hẳn vào vai chàng khổng lồ Trung Hoa đại lục, nếu không còn thế tựa vai bá cổ đó chắc gì thể chế này với hệ thống cấu trúc bung sung Đảng – Nhà nước – Pháp luật có thể tồn tại trước sức ép của quốc nội. Còn ngả hẳn vào vai chàng Cao bồi, chắc là không thể rồi, vì 2 lẽ, thứ nhất là bây giờ chắc gì Cao bồi sẵn sàng đón nhận, thứ 2 là chàng này luôn đưa lá bài dân chủ, nhân quyền, xã hội dân sự lên bàn đàm phán. Những vấn đề này, không chỉ các nhà ngoại giao mà cả các vị chóp bu của ta cũng tuyệt đối kỳ thị.
Khổ thân các nhà ngoại giao vĩ đại của chúng ta.
HOADAINHAN
Xem bài của Hiệu Minh:
http://hieuminh.org/2012/12/05/ngoai-giao-dao-duc-kinh/#comment-58493

Ôn cố, tri tân

Posted on


• “Tri túc bất nhục” – Người biết đủ, không bao giờ nhục
• “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất”- Lưới trời lồng lộng, cao mà khó lọt
• ”Đạo khả Đạo phi thường Đạo. Danh khả danh phi thường danh”. Đạo có thể gọi được, không phải là Đạo thường. Tên mà có thể gọi được, không phải là tên thường .
• ” Tri kỷ giả minh. Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường”. Tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh. Thắng được mình là kiên cường.
• Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên.
LỜI LÃO TỬ
hoadainhan sưu tầm

Lão tử “tri nan”

Posted on


Về Đạo Đức kinh, lẽ nào gần 3000 năm trôi qua mà Lão Tử vẫn than “Tri nan” sao:
“1. Lời ta dễ biết dễ làm,
Nhưng mà thiên hạ chẳng am, chẳng tường.
2. Lời ta nói có chủ trương,
Việc ta vốn có lối đường chốt then.
3. Nhưng mà tục tử ngu hèn,
Hiểu ta chẳng nổi chuyện xem thường tình.
Hiểu ta mấy bậc tinh anh,
Ít người hiểu nổi nên danh càng lừng.
Xưa nay những bậc thánh nhân,
Ngọc tàng dưới lớp áo quần xác xơ”. (Chương 70: Tri nan, DDK).
SƯU TẦM