Month: Tháng Năm 2012

10 đặc tính người Việt dưới con mắt người Mỹ

Posted on


Tác giả: Trần Kim Nghị
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:

1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.

2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.

3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.

4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.

5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).

[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]

6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.

7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). [to save face or to show off].

8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.

9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.

10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc).
[one person can complete a task excellently; 2 people do it poorly, and 3 people make a mess of it].

Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?

Người xưa cũng đã nhận ra

Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người Việt lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này. Trong phạm vi một bài báo, chúng tôi chỉ xin trích lại dưới đây một số đoạn chính ông viết về đặc tính của người Việt.

Trong bài tựa, ông nói ngay:

“Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: «Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!»

“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”

“Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có công hiệu vậy.”

Ở Chương VI nói về “Kết Quả của Thời Bắc Thuộc”, ông có nhận định rõ hơn:
“Nguyên nước Tàu từ đời Tam Đại đã văn minh lắm, mà nhất là về đời nhà Chu thì cái học thuật lại càng rực rỡ lắm. Những học phái lớn như là Nho giáo và Lão giáo, đều khởi đầu từ đời ấy. Về sau đến đời nhà Hán, nhà Đường, những học phái ấy thịnh lên, lại có Phật giáo ở Ấn độ truyền sang, rồi cả ba đạo cùng truyền bá đi khắp cả mọi nơi trong nước. Từ đó trở về sau nước Tàu và những nước chịu ảnh hưởng của Tàu đều theo tông chỉ của những đạo ấy mà lập ra sự sùng tín, luân lý và phong tục tương tự như nhau cả…”

“Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát đạt bên Tàu, thì đất Giao châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần trở đi.
“Phàm phong tục và chính trị là do sự học thuật và tông giáo mà ra. Mà người mình đã theo học thuật và Tông giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả. Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thua kém Tàu, mà tự người mình không thấy có tìm kiếm và bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc, gọi là có cái tinh thần riêng của nòi giống mình, là tại làm sao? …

“Người mà cả đời không đi đến đâu, mắt không trông thấy cái hay cái dở của người, thì tiến hóa làm sao được? Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã học của Tàu là hay, là tốt hơn cả: từ sự tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở. Cách mình sùng mộ văn minh của Tàu như thế, cho nên không chịu so sánh cái hơn cái kém, không tìm cách phát minh những điều hay tốt ra, chỉ đinh ninh rằng người ta hơn mình, mình chỉ bắt chước người ta là đủ.

“Địa thế nước mình như thế, tính chất và sự học vấn của người mình như thế, thì cái trình độ tiến hóa của mình tất là phải chậm chạp và việc gì cũng phải thua kém người ta vậy.”

Đọc cuốn “Lều chõng”, một tiểu thuyết phóng sự của nhà văn Ngô Tất Tố (1894 – 1954), chúng ta có thể thấy rõ nền học vấn của người Tàu mà người Việt rập khuôn theo đã kềm hảm con người như thế nào. Ông vốn là một nhà Nho, đã từng tham dự các kỳ thi hương dưới triều Nguyễn, nên đã phản ánh một cách trung thực những oái ăm của các kỳ thi này và nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩ suốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn toàn thất vọng.

“Trước là làm đẹp sau là ấm thân”

Nước Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm, đã cởi bỏ nền học vấn của Trung Hoa, tiếp thu nền học vấn mới của phương Tây, nhưng vẫn còn giữ lại nhiều nét căn bản của nền văn hóa Trung Hoa. Có nhiều hủ tục trong quan, hôn, tang, tế mà cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Trung Quốc đã phá sạch, nhưng nhiều người Việt vẫn cố giữ lại như những thứ “quốc hồn quốc túy”.

Bài tục giao sau đây vẫn còn là tiêu chuẩn và mục tiêu thăng tiến của gia đình và con người Việt Nam:

Con ơi! muốn nên thân người
Lắng tay nghe lấy những lời mẹ cha
Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dồi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân
Bây giờ người con gái không còn chỉ “giữ việc trong nhà”, và người con trai không còn chỉ “đọc sách ngâm thơ” mà đã đi vào khắp mọi lãnh vực của cuộc sống, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn chỉ là “Trước là đẹp mặt sau là ấm thân”.

Trong nước, tiêu chuẩn của cuộc sống là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học ngoại quốc… Tiêu chuẩn ở hải ngoại cũng thế thôi: Đi dâu cũng nghe khoe nhà trên cả triệu bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư… Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.

Với mục tiêu như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi nhìn ra phố Bolsa, thủ đô của VNCH nối dài, đa số các cơ sở kinh doanh lớn đều không phải của người Việt. Tuy bên ngoài người Việt gốc Hoa đứng tên, nhưng đàng sau là các bang hội của Tàu. Thương xá Phúc Lộc Thọ vốn được coi là “Quốc Hội VNCH” ở Bolsa, nhưng phía trước là tượng các danh nhân Trung Hoa và tên thương xá được viết vừa bằng chữ Tàu vừa bằng chữ Việt. Houston cũng thế thôi.

Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.

Trong khi người Việt nhiễm văn hoá Trung Quốc đã trở thành như đã nói trên, người Hoa khi ra hải ngoại lại thích ứng rất nhanh nên vươn lên khá nhanh và khá cao. Những đặc tính của người Hoa ở hải ngoại được mô tả như sau:

1.- Cần cù, việc gì cũng làm
2.- Tiết kiệm, không sống khoe khoang hay xa hoa.
3.- Khởi sự từ buôn bán nhỏ.
4.- Đơn vị kinh tế gia đình: Gia trưởng đóng vai trò quan trọng. Tài sản có thể truyền từ đời nọ sang đới kia.
5.- Hình thành những xí nghiệp không theo một hình thức chặt chẽ, không theo những quy luật nhất định, tất cả đều dựa vào chữ TÍN.
6.- Không làm những công việc có tính cách phức tạp hay quá to lớn, chỉ thích kinh doanh vào những lãnh vực đơn giản. Khi cần làm ăn lớn thường chia ra làm nhiều công ty con.
7.- Móc nối với chính quyền và cá nhân khác rất giỏi. Không tham gia chính quyền hay đảng phái nào, nhưng thường nắm được các nhân vật có địa vị quan trọng có thể bao che hay hổ trợ cho làm ăn.
(Tại Indonesia, người Hoa chỉ chiếm từ 3% đến 4% dân số, nhưng làm chủ 70% tài sản ở đất nước này với khoảng 160 trong số 200 xí nghiệp lớn của Indonesia. Gia đình ông Liem Sioe Liong, làm chủ xí nghiệp Salim với số vốn khoảng 9 tỷ mỹ kim, nhờ quen biết lớn với Suharto).
8.- Không thích tranh tụng, kiện cáo. Thường tìm cách dàn xếp mỗi khi có đụng chạm hay bị bắt vì vi phạm luật pháp.
9.- Phạm vi hoạt động gần như không biên giới.
10.- Thích ứng rất nhanh với những biến đổi của thời cuộc.

Trong bài “Mạng lưới kinh tế của người Hoa hải ngoại”, ông Phạm Văn Tuấn đã nhận thấy như sau về các hoạt động kinh doanh của người Hoa ở hải ngoại:

“Khi bắt đầu bước vào ngành thương mại, các người Hoa hải ngoại đã nhận được sự giúp đỡ từ các nhóm, các bang hay các cộng đồng của họ. Các hội tương trợ này được tổ chức căn cứ vào gia đình, hay nguồn gốc địa phương, hay thổ ngữ, chẳng hạn như các bang người Hẹ, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến. Các hội hay các bang này đã hoạt động như một thứ ngân hàng nhờ đó người Hoa có thể mượn tiền, trao đổi tin tức, tuyển mộ nhân công, giới thiệu thương nghiệp, hay thương lượng các dịch vụ. Người Hoa hải ngoại thường tôn trọng chữ Tín, họ làm ăn bằng ước hẹn miệng và sự tin cẩn lẫn nhau, và họ không cần phải ký kết các văn bản, các giao kèo. Nếu một thương gia nào vi phạm lời hứa, người đó sẽ không bị truy tố ra pháp luật mà bị ghi vào sổ đen của các nhóm, các bang, đây là một tệ hại hơn, vì tất cả mạng lưới làm ăn của các cộng đồng người Hoa đều sẽ biết rõ sự việc, và việc kinh doanh của người vi phạm kể như bị chấm dứt.”

Số vốn của người Hoa hiện đang sống ở ngoại quốc được ước lượng khoảng 4.000 tỷ USD.

Cuộc kiểm tra năm 2010 cho thấy ở Mỹ hiện nay người Hoa chiếm 1%, còn người Việt là 0,5%, tức 1.548.449. Người Việt ở Cali là 581.946 nguời.

Tại Little Saigon ở Orange County, được coi thủ đô của VNCH nối dài, thành trì chống cộng của thế giới tự do và tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á, có đến 3 chính phủ và ba ban đại diện cộng đồng: Ba chính phủ là chính phủ Nguyễn Hữu Chánh, chính phủ Đào Minh Quân và chính phủ Hồ Văn Sinh (thay thế Nguyễn Bá Cẩn). Ba ban đại diện cộng đồng là cộng đồng Nguyễn Xuân Vinh, cộng đồng Nguyễn Tấn Lạc và cộng đồng Nguyễn Xuân Nghĩa. Cộng Đồng này đang chửi cộng đồng kia là tiếm danh.

Mặc dầu lực lượng hùng hậu như thế, nhưng khi nhóm VietWeekly chưa đến 10 người nổi lên ủng hộ Hà Nội giữa phố Little Saigon, chọc tức các đoàn thể chống cộng và cộng đồng mà chẳng ai làm gì được. Trong khi đó, các “chiến sĩ chống cộng” vẫn tiếp tục chụp mũ nhau không ngừng nghĩ trên các diễn đàn. Rất nhiều “nhân tài” của người Việt đang chuẩn bị ra tranh cử các chức vụ dân cử tại địa phương, thành phố, tiểu bang và có thể liên bang, trong cuộc bầu cử sắp đến. Mục tiêu được mô tả là để bảo vệ và nói lên tiếng nói của cộng đồng.

Trái lại, chúng tôi không thấy có một tổ chức chính trị nào của người Tàu hoạt động ở đây và không nghe nói họ sẽ đưa ai ra tranh cử.

Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2004, lúc đó liên danh George W. Bush đang tranh với liên danh John Kerry. Tôi có nhờ ông Tăng Kiến Hoa dẫn đến gặp một vài bang trưởng Tàu xem họ bầu cho ai. Họ cười và nói: Quy luật bầu cử là phù thịnh bất phù suy. Cứ thấy ai chắc thắng là đóng tiền cho người đó, không cần biết đường lối họ như thế nào. Họ đã nhận tiền là khi đắc cử họ sẽ giúp mình. Nếu hai người ngang ngữa, đóng tiền cho cả hai. Tôi hỏi người Tàu không có ai ra tranh cử dân biểu hay nghị sĩ gì sao. Họ cũng cười và nói: Người mình có vào được quốc hội cũng chẳng làm được chuyện mình muốn. Cứ thấy người nào có thế lực là đóng tiền cho người đó.

Thì ra người Tàu bầu cử bằng tiền chứ không phải bầu cử bằng phiếu như người Việt!

Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử năm 2000, vì hai liên danh George W. Bush và Albert A. Gore ngang ngữa, nên người Tàu đóng tiền cho cả hai. Tây An Tự và Thiền Sư Thanh Hải ở Los Angeles đã đóng tiền cho liên danh Gore nhưng lập danh sách giả những người góp tiền, bị đổ bể nên chúng ta mới biết được.

Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs…, chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét:

Người Việt vì những lý do vớ vẩn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]

Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc!

Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.

Lại thêm thư ngỏ gửi anh Đinh La Thăng

Posted on


Tác giả: Lương Kháu Lão
Từ khi nhận chức Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải , ông đã có nhiều chủ trương, nhiều giải pháp không giống ai những mong nhanh chóng thay đổi bộ mặt giao thông của nước ta đặc biệt là ở hai thành phố lớn nhất nước . Không ai phủ nhận thái độ tích cực của ông nhưng hiệu quả của những chủ trương được ông tung ra như những “quả đấm thép” lại thiếu sức nặng và do đó hầu như đã đấm vào không khí. Từ đó dư luận nghi ngờ năng lực cũng như sự hiểu biết của ông trên cương vị một nhà quản lí nhà nước cấp cao

Không phải ngẫu nhiên mà Chính phủ đặt tên Bộ do ông phụ trách là Bộ Giao thông Vận tải. Nói điều này đối với ông có lẽ hơi thừa vì một người thông thái và hăng hái như ông thừa biết . Nhưng người viết vẫn muốn nhắc nhở ông cũng như nhắc nhở mọi người tham gia phản biện rằng nhiệm vụ chính của ngành là xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và tổ chức giao thông . Nói nôm na hai nhiệm vụ chính của Bộ Giao thông Vận tải là xây cầu _ làm đường và tổ chức sự đi lại của người dân tức là vận tải .

Chúng ta cứ bàn cãi mãi vì sao ách tắc giao thông ngày càng nghiêm trọng , vì sao tai nạn giao thông ngày càng báo động . Rồi người ta trong đó có cả ông nghĩ ra trăm phương ngàn kế để khắc phục hai vấn nạn trên bất chấp cả các quy luật tự nhiên và xã hội . Ví dụ cho đổi giờ làm việc và giờ học , ví dụ cấm xe ô tô lưu hành, ví dụ thu phí bảo trì đường bộ , hạn chế phát triển phương tiện vận tải cá nhân đồng thời tăng lượng vận hành của xe buýt vân vân và vân vân . Tất cả các chủ trương trên từ ý tưởng cho đến việc thực hiện đều chưa mang lại hiệu quả rõ rệt và rồi không biết một thời khắc nào đó, ông lại tung ra một tuyên bố giật gân nữa. Xin nói ngay người dân đã quen với những đòn gió mà ông lạm dụng rồi. Bây giờ người ta “biết tỏng” gót chân Asin của ông rồi . Ông chỉ “giỏi ” giải ngân và tiêu tiền thôi. Thiếu tiền là ông đứng ngồi không yên và tìm mọi cách để có tiền. Xem ông tiêu cả ngàn tỉ đồng mà như người ta tiêu vài triệu bạc . Rõ kinh !

Người ta góp nhiều ý kiến về cải thiện việc đi lại của dân. Xem ra từ khi Hà Nội xây hai chiếc cầu vượt “dã chiến” ùn ứ ở hai nút giao quan trọng này cải thiện đáng kể . Nếu Hà Nội xây thêm vài chiếc cầu nữa và ông đôn đốc nhà thầu khẩn trương hoàn thành đoạn đường trên cao Phạm Hùng ,Khuất Duy Tiến ,Nguyễn Xiển thì tôi tin rằng ách tắc sẽ được giải quyết cơ bản. Thử hỏi bao nhiêu năm nay Hà Nội đã xây thêm được bao nhiêu cây cầu, bao nhiêu con đường ? Quá ít nếu không muốn nói là chẳng xây thêm gì cả. Đường 32 đi Sơn Tây thì làm cả chục năm bây giờ mới xong, cầu vượt đường Hoàng Hoa Thám , công trình chào mừng ngàn năm Thăng Long thì cho đến hôm nay vẫn thấy xe lu ì ạch chạy chưa biết đến ngày nào thì có thể thông xe nút giao Thuỵ Khuê Văn Cao . Chỉ cần Hà Nội đầu tư khoảng hai ngàn tỉ đồng, bằng một phần chín số tiền thất thoát ở Ngành dầu khí mà ông là Tổng tư lệnh thì ách tắc sẽ được giải quyết triệt để chả cần người dân phải đóng góp gì. Chả nhẽ ông không day dứt gì vì số tiền thất thoát tới 18.000 tỉ đồng mà Thanh tra chính phủ công bố khi đề xuất người dân đóng góp quỹ bảo trì đường bộ ? Chả nhẽ ông vô can trong việc chi tiêu tầm bậy tầm bạ một khi Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng lãng phí nay trực thuộc Bộ Chính trị và Ban Nội chính Trung ương chứ không phải Thủ tướng Chính phủ nắm giữ nữa

Khi đường xá được mở rộng và thông thoáng thì việc tổ chức giao thông không đến nỗi tắc tị như hiện nay

Ông hãy quên cái đám xe buýt đi . Vài trăm thậm chí vài ngàn xe cũng không giải quyết được việc đi lại vì làm gì có đường riêng cho xe buýt mà càng nhiều xe buýt nhất là xe buýt lớn đi chung với các loại xe khác thì càng gây ách tắc mà thôi. Ông hãy đề nghị nhà thầu Trung Quốc nhanh tay hoàn thành chục cây số đường sắt trên cao Hà Đông Hà Nội thì với tần xuất 5 phút một chuyến và rẻ tiền người ta sẽ có thói quen đi bộ và bỏ xe máy để đi xe điện như ở các nước cả thôi. Đó cũng là quy luật của vận tải hành khách công cộng mà Việt Nam chưa có tiền lệ chứng minh

Lại nói đường dành riêng cho xe buýt thường thấy trên ti vi ở các nước tiên tiến. Những tưởng khi Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội, một số con đường mới mở như Lê Văn Lương kéo dài hay Phạm Hùng sẽ có đường hai chiều với nhiều làn xe, có đường dành riêng cho xe buýt, cho xe máy, cho người đi bộ, có vỉa hè, có chỗ đậu xe rồi mới đến san sát cửa hàng cửa hiệu . Nhưng tất cả chỉ là chiếc bánh vẽ đánh lừa các nhà lãnh đạo khi duyệt quy hoạch. Nay thì chả bao giờ có một con đường hiện đại như thế, Chỉ có “hai làn rưỡi” đường cho các loại xe chen lấn nhau, thậm chí chả có cả vỉa hè nữa. Nhà đầu tư sau khi có giấy phép thả sức xây nhà để bán và Hà Nội muôn đời là thành phố lạc hậu manh mún trong xây dựng và giao thông cho dù có mở rộng cỡ nào chăng nữa

Khi đến một địa phương ở miền núi, các lãnh đạo địa phương đều tự hào khoe địa phương mình đã giải quyết được ba khâu “đường, trường, trạm” Ý nói giao thông đi trước một bước sẽ kéo theo sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Hà Nội thì làm ngược lại ông Thăng ạ. Họ xây nhà trước rồi mới nghĩ đến mở đường rộng bao nhiêu nghĩa là lợi ích nhóm là trên hết. Hãy quên khẩn trương các lợi ích công cộng khác. Đời tao chén cho xong mấy cái dự án béo bở đã còn việc đi lại ách tắc, tai nạn đã có thằng giao thông nó lo . Không biết ông có cảm nhận được điều đó không ?Hay là ông đang góp phần vào cái quy hoạch lộn xộn và phản động đó khi công bố ý định bán trụ sở Bộ Giao thông Vận tải cho một công ty cổ phần đã được chỉ định để họ xây cao ốc góp phần đẩy ách tắc giao thông lên đỉnh điểm ?

Thiên hạ viết về ông quá nhiều. Khen có, chê có , chửi cũng có . Thư này thuộc loại dễ đọc không biết có giúp gì được cho ông không ? Thư viết chưa xong thì Đài báo đưa tin nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines bị bắt, Một câu hỏi được đặt ra : Sau Phạm Thanh Bình, Dương Chí Dũng, ai là người ở Bộ Giao thông vận tải sa vào vòng lao lí ? Hy vọng người đó không phải là Đinh La Thăng

Chào ông

Theo: Blog Lương Kháu Lão

Những bí mật đằng sau thanh kiếm Nhật

Posted on


Sưu tầm

Kiếm Nhật hay Katana (tiếng Nhật: 刀 Đao) là loại kiếm dài, hình hơi cong, một lưỡi, rất bén được các võ sĩ Nhật trọng dụng và luôn đeo trên thắt lưng – thường có cặp với một thanh kiếm ngắn hơn, hoặc cực ngắn gọi là Đoản Đao (短刀). Bộ kiếm đôi gọi là Đại – Tiểu (大小) – biểu tượng cho tác phong và danh dự của người võ sĩ. Thanh kiếm dài Katana dùng để chém trong tác chiến. Kiếm ngắn để đâm khi đến gần đối phương – hoặc để mổ bụng tự sát (một kỹ thuật tự sát của samurai, mang tên seppuku).

Kiếm Katana có chuôi dài đủ để người sử dụng dùng hai bàn tay nắm chặt. Theo truyền thống, kiếm được đeo với lưỡi quay lên phía trên, (chiều cong hướng lên trên, ngược với cách đeo kiếm Tây Âu). Ngày nay tuy không còn được sử dụng trong chiến tranh, kiếm Nhật vẫn được giới sưu tầm yêu chuộng – loại kiếm cổ rất mắc tiền; và nghệ thuật tác chiến bằng kiếm Nhật vẫn còn được lưu truyền trong một số thể thao võ thuật Nhật Bản, như môn Kendo (Kiếm đạo),Kenjutsu (Kiếm thuật), Battojutsu (Bạt đao thuật).

Lịch sử ra đời
Người Nhật đã có một truyền thống rèn kiếm lâu đời. Kiếm, ngọc và gương là ba bảo vật truyền quốc, được coi như biểu chương của hoàng gia (imperial regalia), thờ tại đền ở Ise gần hoàng cung cũ ở cựu đô Nara cũng là những linh vật trong thần đạo (shinto).
Ngay từ thời đại Kofun và Nara (300-794) đầu Công nguyên, nước Nhật đã sử dụng kiếm, hồi đó lưỡi kiếm thẳng và dài chừng 80 cm theo mẫu mực của Trung Hoa và Triều Tiên. Đến thế kỷ 8, đầu thế kỷ 9 người Nhật bắt đầu đúc kiếm có hình cong ở gần cán rồi dần dần cong hoàn toàn.
Thời đại Heian sau đó (794-1185), nước Nhật bước vào một thời kỳ văn hoá khá rực rỡ. Xã hội nhiều giai cấp trong đó giới võ sĩ (samurai), giới tăng nhân (warrior monks) trở thành những lực lượng quan trọng được triều đình thuê mướn để bảo vệ lãnh thổ. Thanh kiếm đã không chỉ là một võ khí mà đã trở thành một tác phẩm, vừa thanh tú vừa mỹ thuật.
Người ta cũng bắt đầu khắc tên và nơi chế tạo trên chuôi kiếm, hiệp sĩ cũng mang theo những thanh kiếm ngắn hơn để thay đổi. Ngoài kiếm nhiều loại chiến cụ khác cũng phát triển điển hình là cung tên, giáp trụ và nghệ thuật binh bị cũng đạt một tầm vóc mới. Đối với người võ sĩ, thanh kiếm là vật bất ly thân, không rời xa trong bất cứ trường hợp nào.

Phong tục cổ truyền của Nhật Bản là khi gia đình sinh một đứa con trai, mỗi người dân làng sẽ đến mừng cho quý tử một ít mạt sắt. Sắt đó sau này, khi cậu bé trưởng thành, sẽ được một kiếm sư rèn thành kiếm cho cậu. Trước khi rèn một thanh kiếm, bao giờ kiếm sư cũng trai giới, cầu xin thần linh phù hộ và sau đó mặc lễ phục để làm việc. Người ta nói rằng kiếm sư rèn kiếm không còn là một công việc mà là một nghi lễ, thân tâm hợp nhất và tập trung toàn bộ tinh thần từ khi bắt đầu cho tới khi hoàn tất.

Rèn kiếm ( 鍛える)
Kitaeru được coi như một trong những truyền thống cần phải bảo tồn cùng với nhiều bộ môn nghệ thuật khác để duy trì tinh thần đặc thù của người Nhật. Lẽ dĩ nhiên rèn không phải nói về nghề thợ rèn một cách tổng quát mà là kỹ thuật rèn kiếm, một truyền thống lâu đời được coi trọng, vì thanh kiếm không phải chỉ là một món khí giới mà còn tượng trưng cho tinh thần cao thượng của võ sĩ đạo.
Thanh kiếm của người Nhật không phải chỉ là một lưỡi dao dài dùng làm vũ khí mà mang theo rất nhiều ý nghĩa. Trong quá trình chế tạo, người ta không những phải thử để xem nó có đủ sắc để xuyên qua nhiều lớp áo giáp bằng sắt mà có khi còn thí nghiệm ngay trên thân xác con người để coi có “ngọt” hay không?
Người Trung Hoa cũng như người Việt Nam cũng chú trọng đến kiếm nhưng quá lắm chỉ coi như một kỹ năng cần điêu luyện, trái lại người Nhật lại nâng thanh kiếm và cách sử dụng lên hàng “đạo” – kiếm đạo (kendo) – và thanh kiếm gắn liền với sinh mạng và nhân cách của người kiếm sĩ (samurai).
Trong khi kiếm Âu Châu chỉ là một lưỡi thép duy nhất, kiếm Nhật bao gồm lá thép, sắt non và thép già, mỗi loại có hàm lượng carbon khác nhau. Lõi của thanh kiếm (shingane) được rèn bằng cách pha trộn giữa sắt thô với thép lá. Sau đó mới là vỏ bao bên ngoài (hadagane) cái lõi đó cũng bằng kỹ thuật trên nhưng dùng sắt non và thép lá. Vỏ bao có thể cần dát ra rồi gập lại 15 lần nhưng nếu nhiều hơn nữa có thể làm thép trở nên dòn và không đều. Lưỡi kiếm sau đó được chêm vào giữa những lớp vỏ bao, rèn cho thật liền lạc khít khao. Lớp vỏ mềm giúp cho cái lõi cứng ở bên trong, khiến cho lưỡi kiếm chịu được va chạm mạnh, dẻo dai hơn kiếm đúc theo kiểu Âu tây.
Người thợ không phải chỉ đúc một thanh kiếm tốt mà còn làm sao cho mỹ thuật, đó mới thực là vấn đề.
Nét cong của thanh kiếm Nhật không phải chỉ do kỹ thuật rèn hay đập mà còn là một biểu trưng văn hoá xuất hiện trên nhiều công trình truyền thống khác, từ mái cong trên đền đài, chùa chiền, cung điện, kể cả thư pháp. Người Nhật vẫn cho rằng nếu đúc một thanh kiếm thẳng băng thì không những thô kệch mà còn quá thực dụng, không nói lên tính nghệ thuật của người võ sĩ. Chính vì thế, họ luôn luôn tạo những đường cong, uốn lên lượn xuống để biến một vũ khí chiến đấu thành một tác phẩm. Tiến trình rèn thép, các loại chất liệu trong mỗi giai đoạn đến nay vẫn còn là những bí mật nghề nghiệp không truyền ra ngoài và cũng là thước đo sự tài hoa, khéo léo cũng như “tay nghề” của các bậc sư.

Mài kiếm
Việc mài kiếm của một nghĩa sĩ khác hẳn công việc mài lưỡi kiếm sau khi một danh thủ đã rèn xong. Rèn kiếm mới chỉ là một chặng đường, tuy quan trọng nhưng không phải là hoàn bị mà còn nhiều công việc khác cũng cam go không kém.
Công việc hoàn chỉnh thanh kiếm chỉ là mài cho sắc mà phải gọi là “chà láng” hay đánh bóng. Đánh bóng một thanh kiếm phải qua 13 giai đoạn, dùng 13 loại đá mài khác nhau và 13 động tác khác nhau và mất trung bình 120 giờ. Để mài một lưỡi kiếm, kiếm sư dùng sáu cục đá mài khác nhau, từ loại nhám xuống dần loại mịn hơn và sau cùng để đánh bóng. Trước khi mài, phải nghiên cứu kỹ càng “thớ” (texture) và “mẫu” (pattern) của thanh kiếm, không phải cùng một lúc mà chỉ từng khoảng 3 cm một. Việc giữ sao cho tay phải và tay trái gần như cân bằng tuyệt đối là một công tác sinh tử vì nếu hai tay chỉ lệch đi một khoảnh khắc thì có thể hỏng luôn cả lưỡi kiếm.
Sau khi mài xong, kiếm sư kẹp hai hòn đá mài mỏng dính trên đầu ngón tay và vuốt theo lưỡi kiếm để đánh bóng. Ông cầm ngang lưỡi kiếm để cho ánh nắng soi lên từng mili mét để kiểm soát công trình của mình lần cuối cùng. Không có hai thanh kiếm nào giống hệt nhau, mỗi thanh kiếm có hình dáng khác nhau và có những đặc tính khác nhau. Mài kiếm chính là làm sao cho thanh kiếm thể hiện được tối ưu cái “tinh thần” của nó, để hiển lộ cái “tận mỹ” của nó, để thoát ra cái “huy hoàng” của lưỡi thép đã hoàn thành. Kiếm mài đúng cách mới có thể hiển hiện được hết tài năng của người rèn kiếm.

Bao kiếm
Một lưỡi kiếm dù quí đến đâu nếu không được lắp vào một cán kiếm thích hợp và để trong một bao kiếm đúng cách thì vẫn không thể nào gọi là hoàn hảo. Muốn làm một bao kiếm, người kiếm sư phải làm hai mảnh vừa khít theo đường cong của lưỡi kiếm rồi dán lại với nhau. Chất keo dán là một loại hồ nấu bằng gạo rồi nghiền cho nhuyễn bằng đũa tre. Bí mật của cách làm bao kiếm là sao cho có cảm tưởng là bao và lưỡi khít khao từ đầu đến cuối nhưng thực ra chỉ tiếp xúc với nhau ở gần cán kiếm mà thôi và lưỡi kiếm không nơi nào quá chặt vì nếu không, độ ẩm của gỗ sẽ làm cho kiếm bị rỉ.

Việc rèn một thanh kiếm đã được nâng lên thành một nghi lễ mang tính chất huyền bí. Người thợ rèn phải trai giới trong nhiều ngày, qua những thể thức thanh tẩy và khi làm việc họ mặt một bộ đồ trắng như một thiền sư, đạo sĩ. Ngay từ thế kỷ 13, kiếm Nhật đã nổi tiếng trên thế giới mà không nơi nào sánh kịp. Người Trung Hoa cũng nói đến bảo kiếm nhưng phần lớn chỉ là truyền thuyết và huyền thoại, chỉ nghe mà không thấy. Trái lại kiếm Nhật có thật và nhiều người đã bỏ một khoản tiền lớn để đặt hay mua. Theo những chuyên gia về luyện kim, mãi đến thế kỷ 19, người Âu châu mới đủ trình độ để tạo được những hợp kim tốt như thép của Nhật trước đó 600 năm và cũng phần lớn là vì học hỏi được phương pháp của xứ Phù Tang. Kiếm Nhật cũng nói lên một đặc tính riêng của dân tộc này, làm việc gì cũng muốn đến chỗ tận thiện, tận mỹ.

DN ô tô khốn đốn

Posted on


Nguồn: VNN.VN
Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) cho biết, tiêu thụ ô tô giảm mạnh trong 4 tháng đầu năm 2012 không phải nguyên nhân do kinh tế khó khăn mà do chính sách của các cơ quan chức năng.

Khó bán xe vì thuế, phí?

Theo số liệu từ VAMA, 4 tháng đầu năm 2012, doanh số bán ô tô của 18 DN thành viên đã giảm tới 21.331 xe so với 4 tháng đầu năm 2011.

Hiện các DN rất khó khăn bởi tồn kho tăng cao, sản xuất đình đốn. Tuy không công bố con số tồn kho cụ thể là bao nhiêu, nhưng theo ông Laurent Charpentier, Tổng giám đốc Công ty Ford Việt Nam, Chủ tịch VAMA, thì tồn kho của các DN gấp 3 lần bình thường.

Ông Gaurav Gupta, Tổng giám đốc GM Việt Nam cho biết, các DN ô tô thường phải lên kế hoạch sản xuất, đặt hàng nhà cung cấp linh kiện từ 3 – 6 tháng trước, dựa trên dự báo nhu cầu ô tô năm sau. Với dự báo thị trường ô tô Việt Nam năm 2012 tiêu thụ khoảng 140.000 xe (bình quân mỗi tháng trên 10.000 xe), thì các DN đã đặt hàng theo con số này từ cuối 2011 rồi. Nay doanh số bán ra giảm 42% so với 4 tháng đầu năm 2011 thì tồn kho tính cả xe đã lắp ráp lẫn bộ linh kiện là rất cao. Theo cách giải thích nà của ông Gaurav Gupta thì ước tính khoảng 20.000 xe và bộ linh kiện của các DN ô tô đang bị tồn kho.

Ông Laurent Charpentier khẳng định tiêu thụ ô tô giảm mạnh trong 4 tháng qua không phải là do kinh tế khó khăn mà lý do chính là từ chính sách. Đầu năm 2012 lệ phí trước bạ tại Tp Hồ Chí Minh tăng lên 15%, Hà Nội lên 20% và phí cấp biển số tại Hà Nội lên 20 triệu đồng/xe, rồi Bộ Giao thông vận tải đề xuất thu phí hạn chế phương tiện giao thông với mức thu cao và tăng 20% mỗi năm khiến cho nhiều người dừng ý định mua xe.

Trước tình hình này, VAMA cũng đã làm việc với các Bộ, ngành liên quan, vấn đề là Bộ Công thương đã xây dựng Quy hoạch phát triển công nghiệp ô ô Việt Nam có mục tiêu rất tốt với mong muốn thu hút các nhà đầu tư vào sản xuất, tạo sân chơi cho các DN và thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô phát triển, nhưng lại có khác biệt lớn với các cơ quan khác như Bộ Tài chính, Giao thông vận tải khi luôn xây dựng và đề xuất các chính sách tăng thuế phí…, ông Laurent Charpentier nói.

Vấn đề muốn phát triển công nghiệp ô tô là phải thu hút được các nhà đầu tư vào sản xuất linh kiện cung cấp cho các DN trong nước và xuất khẩu. Hiện chúng tôi rất muốn sử dụng linh kiện sản xuất trong nước nhưng rất khó khăn. Chẳng hạn như muốn sử dụng ắc quy sản xuất tại Việt Nam thì trong phía Nam có 1 DN sản xuất ắc quy đạt yêu cầu, nhưng năng lực của họ thấp, không đủ cung cấp cho tất cả các DN, mà họ cũng không muốn đầu tư mở rộng sản xuất bởi chính sách của Việt Nam không đủ hấp dẫn với họ. Vì vậy muốn thu hút các DN sản xuất linh kiện đầu tư vào Việt Nam mà không vào các nước khác như Thailand hay Indonesia… thì phải có chính sách đủ hấp dẫn và ổn định. Đến nay chính sách đối với công nghiệp ô tô của Việt Nam vừa có nhiều mâu thuẫn lại vừa thiếu ổn định, ông Laurent Charpentier cho biết.

Hạn chế ô tô, thất thu tiền tỷ

Cũng theo ông Laurent Charpentier, các DN thành viên VAMA đều sở hữu những thương hiệu toàn cầu và có đóng góp lớn cho ngân sách cũng như ngành công nghiệp ô tô thời gian qua. VAMA muốn đẩy mạnh phát triển công nghiệp ô tô tại Việt Nam chứ không muốn lắp ráp giản đơn, vậy thì chính sách phải định lâu dài để các DN nhìn thấy và xây dựng các kế hoạch dài hạn.

Ông Gaurav Gupta cho rằng từ đầu năm 2012 chính sách với ngành ô tô của Việt Nam đã thay đổi liên tục, tác động không tốt đến thị trường ô tô và sản xuất của các DN. Đầu năm lệ phí trước bạ, phí cấp biển số tại Hà Nội và tp Hồ Chí Minh tăng cao, tiếp đến là Bộ Giao thông vận tải đề xuất phí hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, rồi Hà Nội xóa bỏ hàng trăm điểm trông giữ xe, rồi đề xuất 5×5 với việc cấm ô tô đi vào nội đô 5 giờ mỗi ngày và thực hiện 5 ngày trong tuần…

Những thay đổi và các đề xuất này đã khiến nhiều người tiêu dùng bỏ ý định mua xe. Hiện các DN đã phải giảm sản xuất về tương đương với doanh số bán ra. Với sản lượng thấp kéo dài như vậy sản xuất ô tô khó có thể duy trì, ông Gaurav Gupta nói.

VAMA cho biết đã gửi thư tới các cơ quan chức năng đề xuất 3 điểm là: hủy bỏ đề án thu phí hạn chế phương tiện cá nhân và không bao giờ áp dụng nó, chỉ áp dụng 1 mức phí trước bạ 5% dành cho xe con trên toàn quốc và giảm thuế Giá trị gia tăng.

Theo ông Laurent Charpentier, chỉ cần thực hiện 2 đề xuất đầu thì thị trường ô tô sẽ nhanh chóng lấy lại doanh số.

Theo tính toán đến năm 2020 sản lượng ô tô trên thị trường Việt Nam sẽ đạt 400.000 xe và các khoản đóng góp cho Nhà nước sẽ nhiều hơn, Nhà nước sẽ có tiền để đầu tư vào hạ tầng và ngành công nghiệp ô tô Việt Nam sẽ phát triển, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nếu Chính phủ quyết định áp dụng các mức lệ phí và thuế như hiện nay cũng như ban hành phí hạn chế phương tiện cá nhân với mức từ 20- 50 triệu/xe/năm và tăng thêm 20% sau mỗi năm thì sản lượng ô tô của Việt Nam đến năm 2020 chỉ còn 179.000 xe và ngân sách Nhà nước trong 8 năm tới sẽ thất thu tổng cộng khoảng 12 tỷ USD.

Bên cạnh đó, tới 2018 khi các cam kết với AFTA có hiệu lực, thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc về 0% thì lúc đó các nhà sản xuấ sẽ bỏ đi hết, Việt Nam chỉ còn các nhà nhập khẩu và mỗi năm Việt Nam sẽ phải chi khoảng 12 tỷ USD nhập khẩu ô tô đáp ứng nhu cầu trong nước, VAMA cho biết.

Đại gia mê vòng 1 và hệ lụy

Posted on


Tác giả: Phan Manh Tuong

Gái bao bị lên án vì đi ngược xu thế chung?

Tôi chẳng hề nhíu mày khi rút tiền sắm sửa cung phụng cho cô ấy, còn cô ấy sẽ chăm sóc chiều chuộng tôi, như vậy là cả hai cùng có lợi. Chúng tôi chẳng ảnh hưởng gì đến xã hội, chúng tôi thật thà mà sống, có sao đâu cơ chứ, có người thì nhìn nhận rằng cô ấy sống bám vào tôi, sống bám đâu, xét theo khía cạnh khác, tôi chỉ đang làm “nghĩa vụ” với người phụ nữ tôi yêu thôi. Cô ấy cũng thế!

Nhưng vấn đề không chỉ đơn giản như vậy, sự bất bình của dư luận, đó là bởi trong một xã hội bình đẳng như hiện nay, khi người phụ nữ ngày càng tham gia nhiều hơn vào sự phân công lao động trong xã hội cũng như vai trò của họ ngày càng được nâng lên, thì Ngọc Trinh lại đi ngược với xu thế đó, đại diện cho một bộ phận người chấp nhận “sống vậy”.

Xã hội không nên tồn tại nhiều chân dài sống bám

Thật khó định lượng những đóng góp của cô ấy cho xã hội, thật khó mà nói việc cô ấy khoe thân với những bộ đồ lót hay xuất hiện tại các buổi tiệc mang lại bao nhiêu phần trăm GDP cho đất nước. Và cũng không thể nào so sánh tầm quan trọng của người công nhân vệ sinh với một chân dài bóng bẩy. Một buổi trình diễn thời trang sẽ không thể không có các người mẫu, và một ngày không thể không có các cô công nhân vệ sinh làm sạch đường phố.

Vấn đề là người công nhân vệ sinh, họ phải đầu tư mồ hôi, công sức và có thể cả sức khỏe để lao động, thì nhiều cô người mẫu, cái họ đầu tư cho công việc của họ thật chẳng gì nhiều ngoài “vẻ đẹp trời cho”.

Tôi tin rằng những người mẫu chuyên nghiệp phải rèn luyện rất nhiều để có được thành công, nhưng tôi ít khi thấy được cái vất vả đó trong “thành công” của họ hôm nay. Mà thành công của họ, chủ yếu nhờ sự yêu thích của cộng đồng, bởi sự háo hức với “mông và ngực”, nói cách khác, họ giống như một món ăn, mà hiện tại chúng tôi đang thèm, họ xuất hiện để cuộc vui thêm náo nhiệt, để cuộc sống bớt tẻ nhạt và buồn chán hơn là vì vai trò không thể thiếu của họ! Và tôi mong rằng những người như họ sẽ ngày một ít đi, thậm chí hãy tuyệt chủng, khi đứng dưới góc độ là một công dân có trách nhiệm với đất nước.

Chúng ta cần những chân dài, những người mẫu biết lao động, và thành công của họ được đánh đổi bởi sự rèn luyện khó có thể đong đếm, và chúng ta không cần nhiều những chân dài người mẫu ăn bám, tôi nghĩ rằng họ đang nhận sự phân công của cải xã hội một cách quá dễ dàng.

Tôi thừa nhận là một người không mấy thiện cảm với quan niệm “đại gia” hiện nay trong dư luận, và tôi cũng không hề nghĩ là đóng góp của các đại gia chỉ dừng lại ở việc đi làm từ thiện, tôi cũng không hài lòng khi một số người phản bác theo kiểu cùn là “có giỏi thì đi làm đi, đừng ngồi một chỗ mà phán”.

Đại gia tạo điều kiện cho gái bao sống bám

Tôi muốn nhìn nhận vấn đề ở góc độ cách sống hơn, nói đơn giản, tôi thấy quá nhiều người đang giàu lên, nhưng tỷ lệ nghịch với nó là văn hóa lùn đi, và thật xuẩn ngốc nếu ai đó nghĩ rằng chỉ cần giàu là được, một dân tộc nếu chỉ mang GDP ra tranh hùng xứng bá thôi là chưa đủ, mà còn có bản sắc văn hóa, sự văn minh. Các bạn biện hộ rằng họ giàu, họ có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm, đúng là pháp luật không cấm việc tổ chức đám cưới xa hoa, việc nuôi chân dài, việc ăn to nói lớn, nhưng thiết nghĩ, nó nên bị ràng buộc bởi yếu tố văn hóa.

Tôi không nhìn thấy đất nước chúng ta giàu mạnh hơn, mặc dù số lượng đại gia thật dồi dào, bởi tiền thuế mà họ đóng chẳng đáng là bao so với thu nhập của họ, ngành nghề họ làm giàu cũng ít khi đóng vai trò then chốt, dẫn đường, hay mang lại lợi ích to lớn cho đất nước, chứ chưa nói đến nhân loại. Họ nghĩ chỉ cần dừng lại ở việc kiếm tiền, đóng thuế vừa vừa, tạo công ăn việc làm cho một lượng người, thế là đủ rồi. Thực ra họ có thể làm nhiều hơn thế, họ có thể đóng góp được nhiều hơn thế, và khi đó những chân dài sẽ ít cơ hội ăn bám họ hơn.

Xã hội luôn muôn hình muôn vẻ, ai cũng có quyền sống tự do theo pháp luật, và chúng ta không có một thứ tôn giáo nào đó để ràng buộc những yếu tố tinh thần hay nếp sống, vì vậy mà chỉ có thể chờ đợi ở sự “văn hóa” của mỗi người.

Những người như Ngọc Trinh ngày càng nhiều, bởi những “đại gia” tạo điều kiện cho họ “sống bám” ngày càng nhiều, và cũng bởi chúng ta vẫn bị hấp dẫn thật nhiều bởi “mông và ngực”.

Tôi không phải là một đại gia làm kinh tế, vì thế đừng ai phê phán tôi đã giàu chưa mà đi phán xét, tôi không lựa chọn con đường làm giàu như vậy, nhưng tôi tin tôi vẫn có thể trở thành đại gia bằng cách mang lại thật nhiều lợi tích cho xã hội, đừng nói là “phi thương bất phú”.

Tôi đã đọc về sự giàu mạnh của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Anh, Nga, Nhật, và giờ là Mỹ, trong suốt hơn 5 thế kỷ qua họ lần lượt đừng đầu thế giới.

Và tôi tự hỏi Việt Nam sẽ ở đâu, nếu như những “đại gia” và “chân dài” theo kiểu Ngọc Trinh và người yêu của cô ấy ngày càng nhiều ở nước ta.

Chưa bao giờ thấy phụ nữ VN xấu như bây giờ!

Posted on Updated on


Vị TGĐ Công ty vàng nổi tiếng này còn khẳng định, kể cả năm 80 tuổi, ông cũng sẽ luôn là một anh Châu quần jean áo phông, áo sơ mi trẻ trung và năng động như bây giờ!

Nhiều người đã biết đến ông chủ của thương hiệu vàng Bảo Tín Minh Châu với sở thích về chụp ảnh. Quả nhiên tham quan căn biệt thự rộng chừng vài trăm mét vuông vừa là chỗ ở vừa là văn phòng làm việc của ông ở phố Đặng Thai Mai thì mới hiểu hết niềm đam mê đó khi có đến 1/3 diện tích căn nhà này được “ưu tiên” để các đồ, dụng cụ liên quan đến quay phim và chụp ảnh.

Tôi thì thấy thú vị nhất khi thăm quan bộ sưu tập quần áo, giày, kính mắt, nước hoa… của ông. Thật không ngoa nếu như gọi ông là ông hoàng của thời trang.

Chưa bao giờ tôi thấy phụ nữ Việt Nam xấu như hiện nay

Ông có nói mình rất đam mê cái đẹp vậy trong mắt ông thế nào là một người phụ nữ đẹp?
– Với tôi, một người phụ nữ được cho là đẹp thì phải có khuôn mặt đầy đầy đặn, da trắng mịn, tóc đen dầy và mượt… nhưng bây giờ tìm được vẻ đẹp đó là quá khó. Theo quan sát trong những năm trở lại đây tôi thấy chưa bao giờ phụ nữ Việt Nam lại xấu như bây giờ.

Từ tầng 1 đến tầng 3 (trừ phòng khách) thì dường như không còn một chút chỗ trống nào, phải nhìn kỹ lắm thì mới có thể đặt chân đứng yên vị được một chỗ bởi lẽ đồ đạc quá nhiều.

Ông Châu bảo, tất cả những thứ “lộn xộn” này đều không bỏ đi được thứ nào, bởi lẽ đó là những đam mê của ông: Mê vàng, mê thuốc, mê chụp ảnh, mê thời trang và mê… phụ nữ đẹp – nhưng phải là vẻ đẹp của sự chuẩn mực nên đến giờ mặc dù đã kết hôn vài lần nhưng ông vẫn chưa tìm thấy được!
Chê phụ nữ Việt Nam xấu ông có cho là mình hơi phiến diện không?

– Bản chất họ rất đẹp nhưng chính những thói quen sinh hoạt và quan điểm về thời trang cũng như cách ăn mặc đã làm cho họ ngày càng trở nên xấu. Tôi xin dẫn chứng thế này: Để đẹp được thì có 2 căn cứ thứ nhất là sức khỏe (thể chất) và thứ 2 là cách ăn mặc.
Ở vế thứ nhất và về thể chất, do áp lực về công việc nên đa số hiện nay phụ nữ có vấn đề về sức khỏe. Còn trẻ thì nhìn xanh, gầy nhưng khi có tuổi thì hầu hết lại bị béo phì; đặc biệt ra đường để tìm được một người con gái tóc đen, mượt, dài và không ép nhuộm thì đúng là khó như tìm kim đáy biển. Phụ nữ ngày xưa thì dù có già nhưng họ vẫn duy trì được vẻ đẹp của mình, da có nhăn nhưng vẫn trắng hồng, tóc có bạc nhưng vẫn dài và mượt.

Thứ hai về cách ăn mặc, ai cũng thích ngắm một người phụ nữ chân dài – eo thon nhưng cách ăn mặc hiện nay đang làm mất đi vẻ đẹp vốn có đó. Chẳng hạn, để có được chân dài và eo thon thì quần phải bắt đầu từ phần eo nhưng hiện nay các mẫu quần phần lớn đã quên mất nguyên tắc này khi cho cạp quần trễ xuống. Rõ ràng một cái quần cạp càng trễ, ống càng nhỏ thì nhìn người đó chân sẽ ngắn và mất cân đối, dù có được khắc phục bằng một đôi dép cao đế thì vẻ đẹp đó cũng hết sức gượng gạo.

Ra đường một cô gái như thế nào sẽ thu hút được ông nhiều nhất?
– Lâu lắm rồi tôi không nhìn và không thích một cô gái nào cả vì các tiêu chuẩn của tôi về các cô gái hiện nay dường như không còn.

Vậy cái chuẩn của ông đối với một người phụ nữ là gì?

– Chân phương – Thánh thiện – Con nhà lành – Dịu dàng – Nữ tính và Thông minh. Riêng về phong cách ăn mặc nhất định là phải theo “gu” của tôi: Âu ra Âu mà Á thì phải ra Á.

Lấy vợ ông cũng áp dụng theo tiêu chuẩn này?
– Ý thích là một chuyện nhưng không phải lúc nào cũng được hài long và mãn nguyện với những gì mình mơ ước. Ngay cả vợ tôi bây giờ cách ăn mặc cũng không làm tôi hài lòng. Tuy nhiên gần đây sau những lần tranh luận, to tiếng thì cũng đã có sự “cải thiện” theo gu thời trang mà tôi thích.

Giả sử bây giờ ông gặp một người phụ nữ đúng với tiêu chuẩn mà ông mơ ước liệu rằng ông có tính đến chuyện lấy vợ nữa không?

– Có thể tôi hơi cầu toàn khi muốn người khác phải theo ý thích của mình nhưng ai sống cũng phải có một ý thích riêng của mình chứ. Tôi nghĩ rằng để tìm được người phụ nữ mà đáp ứng được các tiêu chuẩn của tôi bây giờ là hơi khó. Đã khó tìm thế rồi mà có duyên được gặp tại sao lại không gắn bó với nhau? (cười).

Dù 80 tuổi tôi cũng sẽ vẫn phong độ như bây giờ
Khó tính đối với thời trang như vậy chắc hẳn việc lựa chọn quần áo cho mình ông cũng không hề dễ tính.

Trả lời thắc mắc của tôi, diện tích căn nhà đã được ưu tiên hết cho các sở thích thì vợ và con ông sẽ sinh hoạt ở đâu? Ông Châu bảo: Phải ở một mình mới phát triển được vì nếu ở chung với vợ con thì sẽ là một cản trở rất lớn. Vì thế tất cả vợ con đều được ông sắm cho dinh thự và ra ở riêng…
– Nhiều người quan điểm rằng đồ đắt tiền là đồ đẹp nhưng tôi thì khác. Tôi cho rằng đẹp đầu tiên là phải phù hợp với mình và phù hợp với hoàn cảnh, tất nhiên trang phục đó không đi ngược với xu thế chuẩn mực về cái đẹp. (Chẳng hạn, quần thì phải có độ thụng nhất định nếu cứ bó sát thì đó là xấu). Do đó, việc lựa chọn quần áo của tôi cứ căn cứ trên những tiêu chuẩn mà tôi đã có sẵn, không hề khó tính và không mất nhiều thời gian.

Gu thời trang của ông là như thế nào?

– Ở mỗi một hoàn cảnh tôi lại có một cách ăn mặc khác nhau sao cho phù hợp, ví dụ: Đi họp thì phải mặc quần âu, áo sơ mi, veston chỉnh tề; đi dã ngoại phải mặc quần sooc, áo phông sao cho tiện lợi và cơ động; bình thường ở nhà là quần bò áo sơ mi.

Ông tưởng tượng năm mình 80 tuổi có phải là một hình ảnh một ông già mặc bộ veston trắng, đội mũ phớt và đi giày trắng không?

– Không bao giờ tôi già nua như thế. Sẽ luôn là một anh Châu quần jean áo phông, áo sơ mi trẻ trung và năng động như bây giờ (cười).
Xin cảm ơn ông!

Theo Chí Thành – Thanh Hải
TTVN

Giàu và nhàn đến phát…điên

Posted on


Trầm cảm vì thành công sớm

Vừa cầm được tấm bằng tốt nghiệp ĐH Ngoại thương là N. T (Đống Đa, Hà Nội) lao vào làm việc như cái máy. Sau 3 năm “cày cuốc”, T. đủ vốn mở công ty riêng. Những năm đầu khởi nghiệp, T. phải đối mặt với biết bao áp lực từ tìm nguồn vốn, đối tác, quản lý nhân viên… Công việc lúc nào cũng bộn bề, đầy thứ lo toan.

Sau gần chục năm lăn lộn trên thương trường, công ty của T. cũng đi vào guồng hoạt động, không còn khó khăn trở ngại. Ở tuổi 34, T. đã đạt được tất cả những gì mơ ước: giám đốc trẻ, công ty làm ăn thuận lợi, thu nhập trăm triệu mỗi tháng, mua được nhà mặt phố, ô tô sang, vợ hiền, con ngoan.

Rối loạn cảm xúc. Ảnh minh họah: tamthantw2

Ai nhìn vào cũng ngưỡng mộ cuộc sống đáng mơ ước của T. nhưng ít ai biết rằng, chính sự thành công sớm khiến T. cảm thấy cuộc sống vô vị, không còn mục tiêu phấn đấu, mất hết động lực sống.

Từ khi công ty đi vào quỹ đạo, không còn khó khăn trở ngại nào nữa T. thấy hụt hẫng, cuộc sống vật chất an nhàn đầy đủ khiến T. thấy mình ù lì, không còn xông xáo như thời trẻ. Vốn là con người của công việc, giờ đến công ty chỉ ký vài giấy tờ, hết 8 tiếng lại về nhà ăn cơm, chơi với con khiến T. cảm thấy chơi vơi.

Dư dả tiền bạc, lại có thời gian rảnh, T. muốn tụ tập bạn bè nhưng nhìn lại xung quanh mình chẳng còn ai thân thiết. Thời gian khởi nghiệp, lao vào làm việc như điên dại, T. đã từ chối hết mọi buổi ăn uống, họp lớp. Thậm chí bạn bè mời cưới T. cũng chỉ gửi phong bì chứ không đi dự.

Cũng vì một thời gian dài tập trung vào công việc, quên bẵng đi sở thích cá nhân nên khi nhàn rỗi, muốn tìm một sân chơi để tham gia ở cái tuổi 34 T. cảm thấy e ngại.

Công việc nhàn nhã, có tiền, có thời gian rảnh mà không có ai tụ họp, một thời gian dài chán nản, bế tắc, T. rơi vào trạng thái trầm cảm phải tìm gặp bác sĩ tâm thần để điều trị.

Nhàn quá cũng sinh bệnh

Câu chuyện của Thúy Hoa (Dịch Vọng, Cầu Giấy) là một ví dụ điển hình cho chứng trầm cảm vì quá nhàn. Hoa làm văn thư ở một ủy ban phường, công việc hết sức nhàn nhã. Nhưng rảnh rỗi quá khiến Hoa cảm thấy chán, cô muốn gặp bạn bè trò chuyện nhưng ai cũng bận rộn cả. Công việc văn thư chỉ là ghi chép sổ sách nên hầu như kiến thức học được ở đại học Hoa không cần động tới. Không có mục tiêu phấn đấu, cô rơi vào trạng thái chán nản, mất ngủ triền miên.

Công việc nhiều áp lực, vất vả dễ khiến con người ta mệt mỏi, chán nản, và ở thái cực ngược lại, công việc an nhàn quá cũng dễ khiến người ta chán. Đó là câu chuyện trầm cảm của những bà nội trợ ở nhà chăm con và những người làm công việc nhà nước nhàn hạ.

Bác sỹ chuyên khoa tâm thần Nguyễn Văn Dũng (Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia, Bệnh viện Bạch Mai) đã từng điều trị chứng trầm cảm cho nhiều bà nội trợ chỉ ở nhà chăm con.

Bác sĩ Dũng kể về một trường hợp bệnh nhân 36 tuổi, người Hà Nội. Chị này có cuộc sống vật chất đầy đủ, không phải lo lắng bất cứ điều gì. Chồng giỏi kiếm tiền nên chị nghe lời chồng bỏ việc ở nhà chăm sóc gia đình. Nói vậy, nhưng nhà có người giúp việc nên chị cũng chẳng phải mó tay vào bất cứ việc gì.

Ngày ngày chị chỉ ôm con, đi siêu thị mua sắm, làm đẹp. Mãi rồi cũng chán, chị muốn tụ tập bạn bè, đồng nghiệp cũ để tám chuyện nhưng mọi người đều đi làm, tất bật với công việc. Chán chường, chị chẳng muốn mua sắm, làm đẹp gì nữa, chỉ suốt ngày quanh quẩn trong nhà. Cứ như vậy chị cảm thấy mệt mỏi, mất ngủ.

Bác sĩ Dũng cho biết, nhiều chị em phụ nữ, nhất là những người đã từng đi làm, giao tiếp rộng khi phải bỏ công việc để chỉ ở nhà nấu cơm, chăm con rất dễ rơi vào trạng thái trầm cảm vì thấy mình lạc hậu với thời cuộc hay cảm thấy lép vế trong gia đình vì không kiếm được thu nhập.

Với trường hợp này cách điều trị tốt nhất là người phụ nữ nên đi làm lại, bất kể công việc gì phù hợp với hoàn cảnh của mình. Công việc giúp họ qua được thời gian nhàn rỗi. Nó khiến họ luôn bận rộn và không có gì phải phiền não.

Bác sĩ Dũng cũng khuyến cáo, không nên để tình trạng stress kéo dài, nên xây dựng lối sống lành mạnh như dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, ngủ đủ thời gian và có chất lượng, tập thể dục thể thao, tham gia các loại hình giải trí mà mình yêu thích… cũng là cách phòng bệnh hiệu quả. Xây dựng mối quan hệ tốt với bạn bè, đồng nghiệp và có quan điểm sống tích cực, tập thái cực quyền, yoga… cũng có thể giúp làm giảm cảm xúc lo âu.

Trầm cảm vì quá sướng, căn bệnh của người giàu?

Một nghiên cứu mới đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy số người bị trầm cảm sống ở các nước phát triển giàu có chiếm tỉ lệ cao hơn rất nhiều, đặc biệt cao nhất ở Pháp và Mỹ (số liệu dựa trên kết quả phỏng vấn 89.000 người ở khắp 18 quốc gia).

Trong khi 15% số người đang sống ở các nước giàu có thừa nhận rằng mình đã ít nhất một lần vật vã với những cơn trầm cảm vì quá sung sướng thì chỉ có 11% số người ở những nước nghèo cho rằng mình gặp khó khăn về tinh thần trong cuộc sống. Chỉ trong năm 2010 đã có tới 5,5% dân số các nước thuộc top thu nhập cao báo cáo bị chứng trầm cảm hành hạ.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ mắc chứng trầm cảm dẫn đến tự tử có khả năng tấn công ở các nước có thu nhập cao hơn so với những nước nghèo rất nhiều. Một câu chuyện thật như đùa đã xảy ra vào cuối tháng 10/2011, khi một cặp vợ chồng trẻ người Ấn Độ làm việc trong ngành công nghệ thông tin, cho rằng quá thỏa mãn với cuộc sống hiện tại của mình nên đã treo cổ tự tử tại nhà riêng ở Merces, ngay ngoại ô thành phố Panaji của bang Goa (Ấn Độ).

Hiện nay trên thế giới có gần 121 triệu người đang phải chịu đựng chứng trầm cảm.

Phó giám đốc Sở GD&ĐT phát điên vì…giỏi

Posted on


VNN.VN
LTS: Kinh tế khó khăn, cuộc sống ngộp thở với mức leo thang của giá cả trong khi đồng lương chưa được cải thiện, văn hóa – đạo đức xã hội xuống cấp… Tỷ lệ nhiều trí thức mắc chứng trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu, hoang tưởng tự cao… phải vào viện tâm thần để điều trị đang tăng cao đột biến trong thời gian gần đây. Chuyên đề “Trí thức tâm thần” hé mở phần nào về bức tranh màu xám này với mong muốn cung cấp thông tin và những kỹ năng cần thiết cho độc giả xây dựng một cuộc sống cân bằng và hạnh phúc.

Tâm thần vì quá giỏi?

Bác sĩ Nguyễn Văn Dũng, chuyên ngành Tâm thần, trưởng phòng T4, Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trong số các bệnh nhân bị tâm thần phải vào viện điều trị, không ít người giỏi giang, có bằng cấp, có địa vị cao trong xã hội.

Bác sĩ Dũng đã từng điều trị cho một vị phó giám đốc sở Giáo dục và đào tạo tỉnh bị trầm cảm, khủng hoảng tinh thần cực độ.

Bác sĩ Dũng kể: “Cô ấy từng là thư ký của UBND tỉnh T.Q, rất chi là giỏi. Vì nghề của cô là giáo viên nên cô được chuyển lên làm Phó Giám đốc Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh T.Q. Là một trong những người giỏi nhất ở Sở, cô đã lập được nhiều dự án, xây dựng nhiều công trình cho tỉnh.

Cô ấy kiêm luôn thủ quỹ của cơ quan. Khi cô làm chung đề tài với ông Giám đốc Sở thì hai người vênh nhau, cô không chịu ký nhận những hóa đơn của ông thủ trưởng vì cho rằng nó không minh bạch. Tình hình căng thẳng, ông Giám đốc sở họp và phê bình cô trước hội đồng Sở. Cô không cãi nhưng về nhà rất lo âu, mất ăn mất ngủ. Kết hợp với giai đoạn mãn kinh ở tuổi 42 nên càng lo âu. Cô bị mắc chứng mất ngủ, trầm cảm nên phải đến bệnh viện điều trị.

Sau khi điều trị 2 tháng, tâm lý đã ổn định, cô về cơ quan làm việc một thời gian thì bị chuyển công tác xuống cơ sở làm Hiệu trưởng của một trường. Lúc đầu mới về cơ quan cô rất bình thường nhưng chính việc chuyển công tác lại khiến cô bị sang chấn tâm lý. Là thư ký UBND tỉnh, lên chức phó Giám đốc Sở, giờ về làm Hiệu trưởng một trường. Cô cảm thấy mình là người thấp kém, hèn mọn. Cô nổi nóng mọi lúc mọi nơi, không biết sợ gì. Cô đuổi hết tất cả nhân viên dưới quyền. Cơ quan lại cho cô đến bệnh viện điều trị”.

Nghịch lý đau lòng

Có một nghịch lý đau lòng là, người càng giỏi, càng tận tụy với công việc thì càng dễ phát điên càng dễ hoảng loạn, trầm cảm. Bệnh tâm thần trong trí thức đang trở thành một căn bệnh trầm kha của xã hội hiện đại.

Bác sĩ Dũng kể về trường hợp tâm thần của một kế toán trưởng giỏi giang, ngay thẳng, trực tính bị tâm thần vì quá lo cho chuyện thu chi trong cơ quan:

“Cô này 36 tuổi, Tốt nghiệp ĐH Tài chính Kế toán, làm ở một cơ quan lớn bên Gia Lâm. Là người ngay thẳng, trực tính nên cô có những quyết sách riêng cho việc thu, chi của cơ quan.

Khi giám đốc đi tiếp khách và lấy biên lai thì cô không chịu thanh toán vì cho rằng đó là các khoản chi ngoài cơ quan. Cô rất lo lắng cho chuyện thu chi cho cơ quan. Cô thẳng tính nên nói với giám đốc là việc đó sai và cô không thể chấp nhận việc đó vì cô là người cầm tài chính của cơ quan.

Giám đốc liền chuyển cô đi làm văn thư. Làm ở văn thư cô vẫn tiếp tục có những can thiệp vào hoạt động tài chính kế toán của cơ quan. Cô tìm ra những lỗ hổng mà lãnh đạo thực hiện. Lãnh đạo không cho cô làm nữa. Cô sinh ra bệnh trầm cảm, không muốn giao tiếp với ai, sợ mọi người đến hại.

Đặc biệt khi kiểm toán nhà nước đến làm việc thì cô sợ hãi, đóng chặt cửa, 3 tuần không ra khỏi phòng. Lúc cô đương chức kế toán trưởng, cũng đã có biểu hiện bệnh, khi kiểm toán nhà nước đến làm việc thì cô sợ hãi, đốt hết tài liệu đi”.

Bác sĩ Dũng cho biết, bình thường đầu óc giới trí thức đã “căng như dây đàn” vì tập trung làm việc với cường độ cao, khi gặp phải những tác động từ bên ngoài vượt ngưỡng chịu đựng của họ thì sẽ mắc bệnh. Rối loạn tâm thần ở giới trí thức chủ yếu là loạn thì cấp (loạn theo giai đoạn).

“Có hai nguyên nhân chính dẫn đến bệnh này đó là do sang chấn tâm lý và sau bệnh tật. Gia đình không hòa thuận, mâu thuẫn thế hệ, con cái hư hỏng, kinh tế thất thoát, mâu thuẫn trường diễn ở cơ quan, đấu tranh chức quyền, nghỉ hưu…là những tác động dẫn đến sang chấn tâm lý. Mất ngủ triền miên, lo âu quá mức, thoái triển cơ thể, mãn kinh cũng dễ dẫn đến rối loạn tâm thần”, bác sĩ Dũng nói.

Triệu chứng dễ nhận thấy ở người tâm thần là mất ngủ, mệt mỏi, lo âu, dễ cáu giận, xa lánh, ít giao tiếp với mọi người. Dẫn đến kết quả công việc giảm sút, cơ thể suy kiệt. “Bệnh nặng thì hoang tưởng, kích động đập phá, sợ hãi có người theo dõi”, bác sĩ Dũng mô tả.

Theo bác sĩ Dũng, những người tìm đến bác sĩ để điều trị chủ yếu là những trường hợp bệnh đã khá nặng. Việc lờ đi những triệu chứng ban đầu, ngại thăm khám thường xuyên dẫn đến quá trình điều trị bệnh khó khăn hơn.

Bác sĩ Dũng khẳng định, nếu phát hiện sớm, điều trị kịp thời, bệnh có thể khỏi nhanh, trở lại với cuộc sống bình thuờng. Nếu phát hiện muộn, bệnh tiến triển mãn tính, khó hồi phục.

12 triệu người Việt có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần

Theo nghiên cứu của bác sĩ La Đức Cương – Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 (Hà Nội), năm 2003, tỷ lệ người bệnh tâm thần và có dấu hiệu liên quan đến bệnh tâm thần tại Việt Nam chỉ khoảng 14% (10 triệu người). Tuy nhiên, đến năm 2010 thì tỷ lệ này đã tăng lên khoảng 15% dân số. Những người này có dấu hiệu mắc phải các triệu chứng tâm thần như tâm thần phân liệt, trầm cảm, rối loạn lo âu, nghiện/lạm dụng rượu, ma túy và chậm phát triển trí tuệ.

Như vậy, ở Việt Nam hiện có khoảng 12 triệu người cần được chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Nghiên cứu của bác sĩ La Đức Cương cũng chỉ ra kinh phí hằng năm mà chính phủ dành cho việc chăm sóc sức khỏe tâm thần toàn dân ngày một tăng (năm 2010 là 60 tỷ đồng còn năm 2011 là 70 tỷ đồng).

Tuy nhiên, số lượng bác sĩ chuyên khoa về tâm thần vẫn còn rất thiếu: chỉ hơn 800 bác sĩ, với tỷ lệ 1 bác sĩ/100.000 dân. So với tỷ lệ trên thế giới (1 bác sĩ/30.000 dân) thì rõ ràng Việt Nam cần có 1.500 bác sĩ tâm thần.

Xây nhà cao tầng để chống ùn tắc GT

Posted on


Lao dong online

Điều đáng chú ý là giải pháp này không những không tốn tiền, mà Nhà nước lại có thêm nhiều tiền. Với điều kiện: Khi GPMB mở rộng thêm 50m mỗi bên và xây các khối nhà cao 25 tầng trên đó theo đúng mật độ xây dựng.

Bản đồ minh họa

Đề xuất này đã được gửi tới Thủ tướng Chính phủ và Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ. Ngày 23.4.2012, Văn phòng Chính phủ đã có công văn số 2805 gửi cho Cty thông báo, đã chuyển đề xuất này đến Bộ GTVT và UBND TP.Hà Nội để nghiên cứu.

8 nguyên nhân được đưa ra trong đề án này về cơ bản không có gì mới, nhưng 8 giải pháp khắc phục thì có hai điểm đáng chú ý. Đó là mở thêm nhiều đường ngang tại một số tuyến phố và mở rộng một số tuyến phố với các biện pháp cụ thể – từ quy mô xây dựng, cơ chế cho các chủ đầu tư… đến việc đề xuất thành lập “Hội đồng cố vấn” do Thủ tướng chủ trì và thành lập. Trong đó, đề án đã đề nghị cho thực hiện thí điểm việc mở rộng đường vành đai 1 theo đúng quy hoạch của thành phố – hiện tắc ở khâu GPMB. Hậu quả, dự án này dù rất quan trọng cho việc lưu thông ở thủ đô, nhưng vẫn chưa thể thành đường vành đai đúng nghĩa.

Phương án đã được tính toán cụ thể với đoạn Trần Khát Chân kéo dài tới đê Nguyễn Khoái (dài 700m) thuộc vành đai 1. Theo đề án này, kinh phí GPMB cho 1km đường Xã Đàn tốn khoảng 1.000 tỉ đồng. Nhưng khi hình thành, tuyến phố này mặt tiền vẫn khá lộn xộn. Rút kinh nghiệm, UBND TP khi quy hoạch lại tuyến phố Trần Khát Chân sẽ lấy thêm mỗi bên đường khoảng 50m.

Tuy nhiên, khi GPMB lại bị tắc. Theo đó, khu đất hai bên đường chỉ cho xây 9 khối nhà thấp tầng (9 tầng) thì ngân sách nhà nước phải bỏ ra từ 300 – 500 tỉ đồng mà sự đồng thuận của người dân không cao.

Đề án này khẳng định rằng, nếu TP cho phép thí điểm làm 9 khối nhà trên thay vì 9 tầng bằng 22 tầng thì sẽ GPMB được ngay. Đồng thời, khi làm xong đường, TP lại có thêm tiền. Tính toán của đề án là, từ tầng 1 – 3 sẽ vừa làm văn phòng, nhà trẻ, siêu thị, các tầng trên cho tái định cư và kinh doanh. Như vậy, 100% số dân ở đấy sẽ có thể tái định cư tại chỗ, giá đền bù sẽ cao hơn nên dân sẽ đồng thuận cao.

Theo tính toán, số tiền bán đất ở mặt bằng 9 ô đất này khoảng 3.292 tỉ đồng. Số tiền này đủ để đền bù khi GPMB và làm đoạn đường dài 700m này. Đồng thời, dự kiến tổng số tiền đầu tư cho dự án 9 khối nhà 22 tầng này khoảng 10.000 tỉ đồng. Như vậy, nếu chỉ tính riêng khoản thuế VAT, TP đã thu được khoảng 1.000 tỉ đồng. Nếu thí điểm thành công, đề nghị Chính phủ cùng Hà Nội sẽ tiếp tục mở rộng ở các tuyến phố khác theo đúng quy hoạch của thủ đô.

Các tác giả đề án này cũng khẳng định, tuy xây cao tầng, nhưng sẽ giảm được 65% ùn tắc giao thông, bởi nếu mở rộng làm được ở nhiều tuyến phố, tỉ lệ đường giao thông sẽ tăng từ 8% hiện tại lên 20%. Đề án cũng đưa ra số liệu để so sánh: TP.Osaka của Nhật Bản có 1.463 tòa nhà cao tầng, ở Hồng Kông có 7.685 tòa, ở Bangkok có 1.106, trong khi đó ở Hà Nội mới có khoảng 150 tòa nhà như vậy.