Month: Tháng Một 2012

Hàn lâm…liệt truyện

Posted on


Nói đến Viện Khoa học Việt Nam (VKHVN) trên Nghĩa Đô (Hà Nội), ai cũng biết đó là cái nôi của nền khoa học nước nhà với ước vọng thành Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam. Nhà văn Tô Hoài kể ngày xưa dốc Bưởi Nghĩa Đô có nhiều trộm cướp.

Được thành lập sau 1975, VKHVN có các viện chuyên ngành như Toán, Tin học, Sinh học, Vật lý, Hóa học… Biên chế khoảng 3000 cán bộ khoa học trẻ, tốt nghiệp loại ưu tú từ các nước XHCN trở về.

Thời gian đầu Giáo sư Trần Đại Nghĩa làm Viện trưởng, sau đó là Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu. Tuổi trẻ như tôi vào đó với bao ước vọng lớn lao. Chiến tranh đi du học, hòa bình quay về xây dựng đất nước. Hoài bão không nhỏ, nhưng khi vào thực tế thì mới biết câu chuyện hàn lâm ở một nước nghèo không đơn giản.

Hành trình đưa điều khiển học về hợp tác xã

Nhớ tháng 8-1977, từ Ba Lan về Viện Tin học ở làng Liễu Giai (Ba Đình, Hà Nội) nhận việc, tôi được một cái bàn cũ, cóc gặm nham nhở, ngồi cạnh anh Hồ Thuần là trưởng phòng Lập trình và tiến sỹ Vũ Duy Mẫn. Phòng 8m2 mà có tới 6 cán bộ hàn lâm. Mở ngăn kéo ra muỗi bay đầy vào mặt, gián, chuột tha hồ tung tăng khắp sân.

Làng Liễu Giai trồng rau, hoa, nhất là hoa lay ơn, thược dược, cần phân tươi, nước giải. Chiều chiều bà con làm vườn, dân khoa học cổ cồn, quần ly, sang trọng dự seminar, vừa bịt mũi, vừa nghe giảng về lưới Petri, automat hữu hạn, vi mạch và micro computer.

Mình trẻ nhất, được các anh chị phân làm việc rửa chén, pha chè mỗi sáng, mỗi chiều. Cơm cặp lồng, quả cà, rau muống và ngủ trưa trên bàn. Cứ thế cuộc đời trôi đi lặng lẽ hàng chục năm trời mà chẳng hiểu mình làm gì cho đất nước.

Ban Điều khiển có bác Ngô Thúc Loan làm trưởng phòng. Nghe nói đây là Tiến sỹ Cybernetics giỏi nhất VN bấy giờ.

Đọc sách, seminar mãi đâm chán, bác Loan có sáng kiến nên về thâm nhập thực tế. Một đoàn cán bộ trẻ như Tuấn Hoa, Kim Anh, Kiều Oanh xinh đẹp lên đường về nông thôn. Họ ăn ở cùng nông dân để xem liệu ngành điều khiển có giúp gì trong việc sản xuất lúa gạo, hay cải tiến thủy nông. Tiến sỹ Loan cũng rất thực tế, khoa học mà chả giúp gì nông dân thì khoa học làm gì.

Viện Tin học 1977. Ảnh: NC Công.

Một lần họp xã viên, bác chủ nhiệm đứng lên giới thiệu. Hôm nay vinh dự có các anh chị trên trung ương về dự. Có ba vấn đề bàn, không cái nào quan trọng hơn cái nào. Đó là đào mương thông sang làng bên, sinh đẻ có kế hoạch bằng thẳt ống dẫn tinh và đưa điều khiển học vào việc đếm trâu đi làm. Cho điều khiển học đứng sau đặt vòng, nhà nông thực tế hơn các viện sỹ.

Không kể thêm cũng biết, điều khiển học đếm trâu đi theo Ngưu Ma Vương sang Tây Trúc thỉnh kinh.

Tiến sỹ Loan thực tế hơn, bỏ điều khiển học, lấy vợ trẻ, có con, sang Liên Xô, xuất khẩu lao động kiêm buôn máy tính. Hai nàng Kim Anh và Kiều Oanh hoa khôi một thời, nay đã thành các bà lão 60.

Vi tính Việt Nam không thể ra biển lớn

Tôi còn nhớ các chuyên gia Pháp thi nhau đến giảng dạy về vi xử lý tại Viện, nơi có chiếc máy ODRA mua của Ba Lan, giá hàng triệu rúp (triệu đô la), chiếm mấy gian hầm chống B52 tại Đồi Thông trong làng Liễu Giai. Đó là niềm tự hào tin học của miền Bắc lúc đó.

Chuyên gia và cũng là cha đẻ của ngành vi tính Việt Nam, Alain Teissonnière, đã tiên đoán máy vi tính sẽ thay thế chiếc ODRA cồng kềng kia và sức mạnh tính toán sẽ được đặt trên chiếc bàn làm việc chứ không phải trong một căn nhà đồ sộ, tốn kém.

Không ai tin được, kể cả những vị công tác lâu năm. Thế mà sau vài năm, điều tưởng chừng vô lý lại thành sự thật.

Hôm nay, ít người nhớ nước ta đã xuất xưởng chiếc máy vi tính đầu tiên của Châu Á từ phòng thí nghiệm tại Viện Tin học. Chiếc máy được thiết kế với chip Intel 8080A nên anh em kỹ sư đặt tên là VT80, VT có nghĩa là vi tính.

Thế hệ sau của VT80 là VT8X được mang đi ứng dụng thử vào quản lý vật tư cho xí nghiệp may Sinco tại Sài gòn vào năm 1981. Phần lập trình đều viết bằng ngôn ngữ bậc thấp assembler. Chiếc máy đó đã chứng minh rằng, vi tính là tương lai của công nghệ thông tin và sức mạnh tính toán có thể đặt trên một chiếc bàn.

Chiếc PC đầu tiên. Ảnh: IOIT

Tôi nhớ lần mang chiếc VT8X đến Hội nghị thành ủy Sài gòn để trình diễn vào giờ nghỉ trưa, được các vị Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh và Mai Chí Thọ nghe rất chăm chú qua lời giới thiệu rất PR của PTS trẻ Vũ Duy Mẫn. Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt hỏi đùa một câu “Giá chiếc máy bé xíu này tương đương với mấy tấn lúa?”.

Khi đó, khu vực Châu Á nói chung, trừ Nhật bản ra, còn rất lạ lẫm với vi xử lý. Các đoàn từ Thái Lan, Nam Triều tiên, Singapore, Malaysia hay Ấn độ đến thăm Viện nườm nượp, một nơi mà đi vệ sinh phải đeo khẩu trang.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường xuyên thăm hỏi Giáo sư Phan Đình Diệu, vị đứng đầu ngành tin học, hay người chủ trì đề tài vi tính Nguyễn Chí Công về những tiến bộ đạt được.

Năm 1980, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Viện, thấy hoàn cảnh cơ cực của những nhà khoa học nên đã giao cho Phó thủ tướng Đồng Sĩ Nguyên, khi xây Viện Toán học trên Nghĩa Đô, phải dành một phần cho phòng thí nghiệm vi tính, để khách quốc tế đến thăm, đỡ thấy đất nước mình quá khổ.

Quan hệ XHCN với các nước tư bản như Pháp lúc đó rất khó khăn, kèm theo cấm vận của Mỹ nhất là nhập khẩu công nghệ. Từ lãnh đạo đến cán bộ trẻ của Viện, sang Paris thực tập, khi về nước mang trong va li những linh kiện vi tính, dù với số tiền đó, họ có thể mua thêm một cái xe máy, tương đương một căn hộ lắp ghép Thành Công.

Những thành công sáng chói bước đầu của vi tính Việt Nam đều có dấu ấn lãnh đạo cấp nhà nước, của cán bộ trẻ năng động và chuyên gia Pháp, hết lòng vì khoa học, dù chỉ dừng ở phòng thí nghiệm.

TT PV Đồng thăm viện. Ảnh: IOIT

Tiếc thay, do cấm vận của Mỹ, không thể nhập công nghệ để sản xuất đại trà, do tầm nhìn hạn hẹp và lợi ích nhóm, vun vén cá nhân tranh thủ làm giầu, rồi đấu tranh nội bộ liên miên của lãnh đạo sau này, chiếc máy vi tính VT80 không thể bơi ra biển lớn.

Hôm nay Singapore, Hàn Quốc, Ấn độ đã bỏ xa Việt Nam, mà họ một thời từng đến học hỏi tại làng Liễu Giai đầy mùi phân tươi trộn nước giải. Dịp may hiếm có 30 năm trước để vi tính Việt Nam trở thành thương hiệu quốc tế đã bị phai phí.

Sau hòa bình 1975, VKHVN có bao nhiêu dự án khoa học bị dở dang, uổng phí tiền bạc và tài năng thì khó ai biết được. Đôi lúc tên dự án rất kêu nhưng trong thực tế, chả mang lại gì nhiều cho người dân bình thường. May ra tính được trên đầu ngón tay những dự án trong sinh học, khí tượng, vật lý, tin học mang lại chút hiệu quả.

Nhưng so với số tiền mà người dân đóng thuế, những gì thu được vô cùng nhỏ bé tại một nơi gọi là hàn lâm viện này.

Từ Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu đến Giáo sư Ngô Bảo Châu

Tin về Viện Toán cao cấp của giáo sư Ngô Bảo Châu vừa thành lập, tôi bỗng nhớ ngày xưa làm việc ở dốc Bưởi nhiều trộm cướp và làng Liễu Giai bốc mùi phân tươi.

Người ta phấn đấu “đến năm 2020 toán học Việt Nam có thứ hạng thứ 40 trên thế giới”, rồi “kinh phí 650 tỷ đồng để nghiên cứu mà Chính phủ không yêu cầu Viện phải nghiên cứu cái gì, việc sử dụng số kinh phí trên như thế nào là quyền của GS Ngô Bảo Châu, Hội đồng khoa học quyết định”.

Ai cũng biết Giáo sư, Viện sỹ, UVTW (và nhiều chức danh khác rất dài) Nguyễn Văn Hiệu là tiến sỹ khoa học thực thụ của viện Dupna lúc 26 tuổi. Sự nổi tiếng của ông không khác Giáo sư Ngô Bảo Châu hôm nay. Công trình vật lý về hạt neutrino của Viện sỹ Hiệu cũng khó hiểu như Bổ đề Langlands của Giáo sư Châu.

Ra mắt Viện Toán cao cấp. VS Hiệu đứng hàng đầu từ phải sang.

Khi đó, báo chí đã gán cho Viện sỹ Hiệu tất cả nhãn mác của một nhà khoa học trẻ, tài năng và hy vọng sẽ được giải thưởng Nobel về Vật lý.

Lên thay giáo sư Trần Đại Nghĩa, giáo sư Hiệu là viện trưởng VKHVN lúc 45 tuổi, một trong những UVTW trẻ nhất thời bấy giờ. Ông được nhà nước dành cho mọi sự ưu đãi, kinh phí nghiên cứu và quyền hạn hơn cả bộ trưởng, tiền bạc, bổng lộc và danh vọng chính trị.

Tiếc thay, Viện sỹ có thể làm khoa học giỏi, là UVTW rồi các danh tiếng khác, nhưng quản lý thì hỡi ôi, khó mà nói được điều gì. Thay vì tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu khoa học như nhà nước giao phó, mong muốn đưa khoa học vào thực tiễn, ông bỗng tuyên bố “con thuyền VKHVN sắp chìm, các anh các chị hãy tự cứu mình”. Viện sỹ cho thành lập các công ty trong Viện, biến nơi đây thành một thị trường nửa hàn lâm, nửa chợ trời buôn bán trao tay.

Khống chế hạt neutrino trong thí nghiệm Vật Lý khác xa với quản lý một viện nghiên cứu có mấy ngàn người. Không có kỹ năng thì kết cục như thế là điều dễ hiểu.

Hàng nghìn cán bộ tài năng trôi giạt khắp nơi. Sau 35 năm, nhiều người ở tuổi “thất thập cổ lai hy” bỗng tự hỏi, mình đã làm gì cho đất nước này, khó mà tìm ra câu trả lời.

Nghĩ về VKHVN, rồi Viện sỹ Hiệu nay đã hưu mà lo cho Viện Toán Cao cấp và Giáo sư Châu. Dù tin vào tài năng xuất chúng của tác giả giải Fields, vẫn có nỗi lo không phải không có căn cứ. Cứ xem sau 40 năm hoạt động của Viện Toán đã góp gì cho nền kinh tế nước nhà cũng đủ hiểu tại sao.

Vĩ thanh

Mấy tháng trước, anh Phạm Ngọc Khôi nhắn tôi về dự kỷ niệm Viện Tin học nhân 35 năm thành lập. Lần khân rồi chẳng về. Buồn nhớ bạn cũ, vào trang web của viện để xem có tin ảnh gì không. Đọc được mẩu tin này khá thú vị

“Thực hiện chỉ thị số 725/CT-TTg ngày 17 tháng 5 năm 2011 của Thủ tướng chính phủ phát động về thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 và kế hoạch 5 năm (2011- 2015), đồng thời để góp phần tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam lần thứ VI, Viện Công nghệ Thông tin (CNTT) phát động phong trào thi đua với chủ đề “Đoàn kết, năng động, sáng tạo, thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2015”.

Cán bộ ở Liễu Giai năm 1980. Ảnh: IOIT

Nếu phát động này có 35 năm trước (1977) thì không ai ngạc nhiên. Nhưng thế giới đã đi rất xa sau hơn mấy thập kỷ mà vẫn một kiểu tư duy thời bao cấp với “vĩ từ và sáo ngữ”. Tự nhiên thấy thương bạn ở lại, và thương cả người đi.

Trong tôi bỗng hiện ra lối mòn hàn lâm xưa ở Nghĩa Đô và con đường làng mà Tiến sỹ Loan đưa điều khiển học về đếm trâu.

Ai có thể chắc chắn rằng, cách đầu tư cho khoa học có cách đây gần 40 năm sẽ đưa Toán học nước mình lên thứ 40, ngoại trừ chỉ có 40 quốc gia trên thế giới nghiên cứu về môn có ứng dụng cho vài thế kỷ sau, trong khi quốc gia đang vượt nghèo này cần bao nhiêu thứ khác thiết thực hơn.

Ở quốc gia đã nghèo, lối mòn trong tư duy quản lý càng kéo lùi sự phát triển, dẫn đến pha phí chất xám.

Ước mong của thế hệ trẻ tài năng bị chết “lâm sàng” bởi có những bác học tưởng rằng, con người cũng chỉ là bổ đề lạ hay hạt neutrino để bắn phá trong phòng thí nghiệm.

Hiệu Minh. 24-01-2012.

PS. Ảnh trong entry được lấy từ website của Viện Tin học (Viện CN TT).

6X và kỳ vọng giới trẻ dấn thân

Posted on Updated on


Khác biệt rõ rệt nhất của tội phạm những năm bao cấp và tội phạm thời kinh tế thị trường là loại thứ nhất có vẻ ngã vào tội lỗi, thống khổ, ăn năn về tội lỗi khi bị tuyên phạt. Còn tội phạm hôm nay không những “trẻ” ra, sắt máu, lì lợm hơn, mà có kẻ còn có vẻ như “hãnh diện” về tội lỗi?

XEM BÀI TRƯỚC TẠI ĐÂY

Khiếm khuyết

Nhưng chính thế hệ @ này đã lớn lên trong vòng tay của các bậc cha mẹ, từng nghe tiếng kẻng báo động phòng không, và không ít trong họ từng vấn những vòng khăn tang sau những nhát lưỡi hái của thần chiến tranh giáng lên người thân.

Trong số phụ huynh còn cả những bậc anh hùng vô danh, sống sót được sau lò lửa chiến tranh tại biên giới Tây Nam và tại biên giới phía Bắc, mà hôm nay trong tiềm thức vẫn luôn ẩn hiện hình bóng đồng đội đã mất…

Hình ảnh khoe thân phản cảm.

Hình như chúng ta chỉ biết hô hào con cháu học, cố sao chúng đạt tấm bằng “xịn”. Trước khi đi du học, bọn trẻ hầu như không được chuẩn bị về lối sống tự lập.

Khác với ông, cha trước kia học Đông Âu, lưu học sinh hôm nay không mấy em chơi thể thao, không có điều kiện quan tâm đến nghệ thuật, ít tự mình tham gia vào đời sống văn hoá của đất nước bạn, thậm chí không giao lưu với dân bản địa…

Có em vì tiết kiệm, ăn mì tôm đến mức dị ứng khắp mình. Nhiều em sống “ngủ ngày cày đêm”, sức khoẻ kém sút. Có em được doanh nghiệp nước ngoài tuyển nhưng rồi phải về nước vì không chịu được tải công việc.

Về nước, cử nhân “Tây” thường không dễ hoà vào cộng đồng, đi làm việc dễ vấp vì kiến thức còn xa lạ với cung cách vẫn “ăn đong” của doanh nghiệp Việt, nói chung. Quan hệ với người yêu và cư xử sau khi lập gia đình vẫn có bóng dáng “người hành tinh khác”. Nhiều cậu trai ngày một to xác nhưng vẫn mắc bệnh “chậm lớn” cố hữu…

Tự trách

“Người lớn” hôm nay thường không lường trước các biến động của toàn cầu hoá, trước hết là về văn hoá.

Gần đây có hãng bán quần áo ở London, Paris, New York thực hiện “xả hàng” cho những ai mặc đồ lót (!) vào cửa hàng. Và có những 9X đã thức đêm “xếp gạch”, thậm chí đội mưa để vào mua hàng khuyến mại. Rồi những nàng không mặc quần, khoả thân nằm với lợn… Gợi lên cho U60 cảm giác là trí tưởng tượng đang bị khô kiệt, và cách thức thể hiện bị bế tắc (?!)

Ở Việt Nam cũng đang “toả sáng” những ngôi sao “tuyệt vọng tài năng, lố lăng thể xác”.

Về đại thể, ta vẫn chưa cung cấp được cho con cháu mình một hình ảnh rõ ràng về ngày mai. Và chúng ta tiếp tục bất lực khi nhận thấy chúng khó có được ước mơ, hướng đích, thậm chí nhiều cô cậu sống khá “hiện sinh”.
Với những nước có các luật lệ, chuẩn mực rõ ràng, có năng lực công quyền đảm bảo tuân thủ luật pháp của công dân, những cú “chập mạch văn hoá” như thế rồi cũng qua đi.

Còn ở Việt Nam, không chỉ bọn trẻ mà những cha anh, thậm chí ông bà chúng, còn phải giật nảy người bởi những cú sốc văn hoá hàng ngày, thì ngay cả làm sao những giải pháp tình thế không quá nhỡ nhàng đã là khó.

Về đại thể, ta vẫn chưa cung cấp được cho con cháu mình một hình ảnh rõ ràng về ngày mai. Và chúng ta tiếp tục bất lực khi nhận thấy chúng khó có được ước mơ, hướng đích, thậm chí nhiều cô cậu sống khá “hiện sinh”.

Xã hội hôm nay, khác trước, là mọi người không thực sự chia sẻ với nhau những giá trị tổng quát từng nổi trội, kiểu như “tự do, bình đẳng, bác ái”, hay “cần, kiệm, liêm, chính” – chúng có vẻ là khẩu hiệu, dù nhiều người đang tiếp tục rao giảng hùng hồn, vẫn có gì đó bất lực, hoang mang.

Những gì là lý tưởng, niềm tin gợi lên quá khứ hơn là ánh sáng dẫn đường về tương lai. Thay cho chúng là dị đoan, là những tín điều phản khoa học, duy tâm vô lối, duy vật trần trụi, chuộng ngoại vô điều kiện.
Trong khi những ai đức hạnh hơn đang ngần ngừ tìm hướng, thì khối kẻ cơ hội, hoặc đơn thuần là những kẻ tham lam, đã hè nhau nặn nên một thứ thị trường nguyên thuỷ, chôm chỉa, đầy chất thải văn hoá nô dịch. Kim la bàn cho con cháu chúng ta đi lên hôm này không chỉ là đạo lý, mà còn phải là “luật pháp thượng tôn”.
Điều tất cả mọi người đều nhất trí được, là “ngày mai” của chúng ta, hay ít nhất, của con cháu chúng ta, phải là một xã hội văn minh hơn, nhân văn hơn, phát triển hơn.Nhưng chúng ta dường như chưa vạch được lộ trình đến đó.

Chắc chúng ta không chỉ phải cơ cấu lại nền kinh tế, cải cách về hành chính, mà phải chú trọng tái cơ cấu cả văn hoá, giáo dục… nữa.

Ở đây đòi hỏi một tiếp cận liên ngành, nếu không nói là toàn diện. Hiện thời, cả nhà trường và đoàn thể xã hội đều chỉ muốn tham gia vào quá trình tu dưỡng đạo đức của các cháu theo kiểu dạy “hàm thụ” trong một môi trường xã hội mà trên các giao diện, cơ chế cũ và hình thái thị trường “tù mù” chắp vá, nhập nhằng vào nhau.
Dễ thấy hai ngành khá liên thông, mà vẫn ngoảnh mặt đi hai hướng như tiết mục táo quân vừa qua, là kinh tế và giáo dục, ít nhất, có cùng một trọng bệnh kinh niên. Đó là thấy có gì “ăn” thì nhào vào sản xuất ồ ạt, nhào vào đào tạo đại trà, không dự toán đầu ra, không khái toán. Chẳng chịu tính là món hàng, hay cử nhân, kỹ sư chuyên ngành đang “hot” này, vài năm nữa, còn cần nữa không, hay là hết mốt, hoặc quá thừa?

Về quản lý kinh tế vĩ mô, trong khi những ai đức hạnh hơn đang ngần ngừ tìm hướng, thì khối kẻ cơ hội, hoặc đơn thuần là những kẻ tham lam, đã hè nhau nặn nên một thứ thị trường nguyên thuỷ, chôm chỉa, đầy chất thải văn hoá nô dịch. Kim la bàn cho con cháu chúng ta đi lên hôm này không chỉ là đạo lý, mà còn phải là “luật pháp thượng tôn”.

Một vẻ đẹp nam hôm nay bị U60 cho là không đàn ông

Trước kia cũng có người đi trái đường, nhưng chỉ là 1/10, hôm nay nếu ta nói người đi đúng đường chỉ có 1/10, sẽ rất ít người cãi lại. Tỷ lệ 1/10 có nên áp dụng cho số lượng “người lớn” còn đặt tin vào công bằng xã hội, hôm nay?

Báo chí Đức từng bình luận về việc người Việt đốt vàng mã, để ma nhà mình có cái lo lót cho “quỷ sứ”. Nghe chuyện này, người Tây phải ngán ngẩm về một quyết tâm hối lộ khắp nơi nơi, đến cõi âm cũng chẳng tha…

Tre và Măng

Tuy nhiên, điều khác biệt lớn nhất giữa 5X, 6X chúng ta với bọn trẻ @ là chúng có bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, có ngòi nổ của nguồn năng lượng sức trẻ.

Nếu cung ứng được mô hình (tấm gương), những luồng tư tưởng tiến bộ, những hướng đích đúng đắn, có sức thuyết phục, chúng (cùng những ai già những chưa “cỗi”) sẽ “vẽ được bản đồ” (nhận thức được quy luật, lộ trình) và hành động đúng quy luật, như cha ông đã từng, để đạt mục đích (tịnh tiến tới xã hội công bằng, dân chủ, văn minh).

Ngược lại, bộ phận trong chúng có thể trở thành thế lực tàn phá khủng khiếp kiểu vô chính phủ, hoặc, dù “tài sắc vẹn toàn”, vẫn sẽ bị chăn dắt bởi các “Mã Giám sinh”, “mẹ mìn” về kinh tế, văn hoá, và cả về chính trị.

Những ai thuộc thế hệ @ đang dấn lên thực hiện ước mơ và hoài bão vẫn được gửi trọn niềm tin yêu. Và Việt Nam sẽ là xứ sở (tuy nhỏ hẹp nhưng thống lĩnh bởi) những bộ óc lớn, những tấm lòng hào hiệp, những tâm hồn cao cả?

Lê Đỗ Huy

6X: Khai mào, độc thoại và…phê phán @

Posted on


Nhiều bậc cha mẹ hiện vẫn chưa chịu thú nhận sự bất lực của mình đối với thị hiếu và lối sống của con cái. Câu mà chúng ta thường nghe là: “Trẻ con bây giờ chúng nó thế”. Giao lưu với bọn trẻ hôm nay – thế giới ngày mai về những khác biệt hôm nay với những gì thuộc thời sôi nổi của các U60?

Khai mào

Thế hệ được sinh sau ngày miền Bắc giải phóng (nửa sau 5X, toàn bộ 6X…) thường được dạy rằng danh dự quý hơn tiền bạc, thậm chí được lợi (chức quyền, tiền) mà mất danh (danh dự), thì cầm bằng là mất. Rằng cần phải tương trợ bạn bè (giúp bạn thậm chí hơn giúp mình…), thoái thác, bội ước (không chung thuỷ, phản bội) là xấu… Những điều này hiện vẫn đang bàng bạc trong các trang sách, theo nghĩa là bạc thếch (trở nên loãng, nhạt, vô vị), nếu ta nhìn thẳng vào thực trạng.

Hiện có ý kiến cho rằng sách vẫn dạy những chuyện cổ “chê người giàu”, làm trẻ em hôm nay đố kỵ, hẹp hòi. Chính U60 cũng từng được dạy rằng buôn bán, dù để sinh nhai, là trục lợi (xấu), làm giàu lại càng xấu. Vì nền sản xuất kiểu xô viết vẫn hướng vào đảm bảo phúc lợi xã hội, không định hướng lợi nhuận… Vì thế, hành vi của U60 lúc nhỏ, về cơ bản, chỉ cần chăm ngoan là đạt yêu cầu.

Với xã hội hôm nay, mọi thứ đều có thể là hàng hoá, với sức tiêu thụ vô biên, cách hưởng thụ vô cùng đa dạng, những chuẩn mực đạo lý theo kiểu phải sống đúng mực, “một vừa, hai phải” thôi, không được “quá quắt”, đã thuộc diện “cơ nhỡ”.

Hoặc bán mình, hoặc bán bạn. Báo AiF (Nga)

Trong xã hội định hướng thị trường có yếu tố tư bản nguyên thuỷ, sự sùng bái tiền nong dường như đang thắng thế. Thăng tiến trên đường hoạn lộ dường như chỉ nhờ “mạnh gạo, bạo tiền”, không còn nhờ công lao phục vụ sự nghiệp dân giàu nước mạnh (!). Niềm tin vào công bằng xã hội giống “miếng da lừa” hơn, so với thời bao cấp. Thông hành vào đời càng ngày càng không giống với lương tâm nghề nghiệp và kỹ năng lao động, nhu cầu hàng ngày. Còn năng lực “ve vãn” (làm thân bằng mọi cách, mọi giá) với chốn quan quyền để chia sẻ tiền chùa hay “mẩu bánh tài nguyên” dường như đang trở thành “kỹ năng sống” quan yếu hôm nay?

Trước kia, do những chập chờn của van – vòi (các cơ cấu điều tiết) trên khâu phân phối lưu thông, không phải ai cũng tin tưởng vào khẩu hiệu “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Còn hôm nay là sự mất định hướng về đích sống và đạo lý, ai tin, tin ai, có nên tôn thờ thần tượng, nếu có, thần tượng nào?

Tôi cố bắt chuyện với mấy cháu con của bạn mình, sinh khoảng giữa thập kỷ 80 và 90, thuộc diện “đỗ đạt”. Tất cả các cháu này đều ngoan, bố mẹ đều khá giả, hoặc làm quan chức. Một cháu học kế toán ở Singapore về, đi làm cho công ty được 5 triệu đồng/tháng, nhưng kêu ca là phải đi học lại kế toán kiểu Việt Nam(!).

Một anh tài học Quản trị kinh doanh ở Australia về hơi “muộn”, đi làm part – time được 2 triệu, rồi mẹ bao thôi ở nhà cho “khoẻ”, tính sau. Một cậu khác học Canada về làm cho nhà nước, sáng vác ô đi… trưa vác về, bố mẹ bao “toàn tập”.

Một cô học trong nước, nhưng làm lập trình, lĩnh lương khoảng 700 đô, rất hiểu biết, duyên dáng, không có vẻ gà công nghiệp, chia sẻ rằng hiện chưa quan tâm được điều gì hơn ngoài đồng lương. Một cô nữa ở lại nơi du học vì được một công ty nước đó thuê, đang hỏi mẹ xem có nên phẫu thuật ngực, vì “quân dung” của cô trong chiến trường – thị trường bị xem là chưa mấy sexy (!). Một cậu nữa “con ngoan, trò giỏi”, nhưng mẫu thân cho rằng cháu nên chia tay với cô bạn gái quê nhà để mẹ có được dâu ngoại, màu da bất kỳ, miễn là dẫn tới cái thẻ có màu xanh…

Độc thoại

U60 chúng tôi cố lôi kéo thế hệ @ vào tranh luận, nhưng phần lớn bọn trẻ thường thiết tha, cùng lắm chiếu cố cho một số ý kiến “chỉ đạo”. Họ có nhiều không gian để hiện hữu, kể cả không gian ảo, vì thế không có thời gian. Hơn nữa, họ phải cố làm ra tiền.

Đành độc diễn, U60 nghĩ rằng ngoài các định hướng rõ rệt về luân thường đạo lý, thế hệ 5X, 6X được thụ hưởng một văn hoá đảm bảo đủ hướng ngoại mà không lai căng (không ít truyện thiếu nhi hay, có cả kịch có tính giáo dục sâu sắc dành cho thiếu nhi, nhiều phim hồn nhiên mà sâu sắc, cảm động…), có cả các “anh hùng thiếu nhi” thực sự, cả trong chiến đấu (như Nguyễn Bá Ngọc…), trong lao động, có những gương cõng bạn nhiều năm tới trường xa.

Trên nền tình trạng hình sự và giao thông của xã hội hôm nay, các U60 còn cám cảnh cho rằng đa số con cháu mình không hạnh phúc bằng tuổi thơ của họ, dù từng phải đội bom đạn trên đầu, học đèn dầu dưới hầm, viết giấy đen làm từ rơm, thậm chí ăn đói, mặc rét…

U60 cho rằng, thế hệ về sau dù bằng cấp có vẻ cao hơn, nhưng về văn hoá không bằng ông cha, tổ tiên.

Phê phán

Phàn nàn về những @ tệ hại có nhiều. Nhưng nổi lên, là ý kiến chê những ai thiếu chung thuỷ, thiếu nguyên tắc trong họ. Riêng tôi ngại nhất là họ thường có vẻ dễ thoả hiệp, dễ dàng chấp nhận bất công. Cũng có thể họ “kịch”, hoặc “máu lạnh” hơn U60 nói chung (?). Chỉ hy vọng khả năng dàn xếp siêu việt của họ đừng có mở rộng sang lĩnh vực lợi ích chính trị, kinh tế của cộng đồng theo tiếng gọi của tình yêu tiền, là được.

Kể từ ngày định hướng thị trường, càng có nhiều hơn những ai (và cả một số U60), tuyên bố xanh rờn rằng họ yêu tiền. Chắc họ muốn công bố hoành tráng quyết tâm muốn làm ra doanh thu lớn. Cũng chả sao, miễn là điều đừng ngụ ý là sẵn sàng bán mình, hoặc bán người khác (bạn, đồng nghiệp, người thân…). Bán mình cũng có hai “lĩnh vực”, bán thân xác, và bán tâm hồn.

Một dạng nữa của tuyên bố hoành tráng trên là “ở đâu có tiền đó là quê hương”.

Càng ngày, càng có nghe nhiều hơn phàn nàn, rằng thế hệ 9X (ra đời nhờ bà đỡ “kinh tế thị trường”) không chỉ thực dụng, mà dường như dữ dằn, đến mức thiên “chơi rắn”, không quan tâm đến đạo lý, nhờn luật. Hay ít nhất, cũng là những nguyễn@lôm.côm, chưa nóng đã bật điều hoà, chưa lạnh đã hò máy sưởi.

9X thường thân thiện khi không được yêu cầu làm gì, và nhất là khi có nhu cầu gì đó. Nhưng họ dễ trở nên dữ tợn khi được yêu cầu làm việc, kể cả những việc vặt trong nhà. Một số vị thậm chí đã có tư duy “dự án”, để làm gì bố mẹ cũng phải đưa tiền, hay ít ra phải tạm ứng. Thường làm kiểu “công nhật”, khi chất lượng hoàn thành kém có thể vẫn xoè tay đòi tiền.

Con gái 9X thường không “nữ công gia chánh”, con trai thường chẳng mấy đàn ông, quảng đại, mà hoặc ngù ngờ, hoặc ngược lại, hung hãn. Thường đua đòi, ưa hưởng thụ nhưng vô cảm…

Nhiều đại diện của thế hệ @ ngày thường có vẻ dễ thương cho tới khi cùng phụ huynh chạm vào một nguyên tắc nào đó: phải thực hiện cho được điều (tốt nhưng khó khăn) này, hoặc triệt để loại trừ (thói quen xấu) kia, thì bộ mặt thực rất chì, rất cùn của họ mới lộ ra. Cuộc đấu tranh với cái xấu trong họ do phụ huynh tiến hành kéo dài có khi tới thập kỷ. Nhiều vị như không hề lớn lên về phương diện “người’ trong giai đoạn đó.

Vẫn có quyền hy vọng với thời gian, họ sẽ tốt lên, nhưng số sa ngã chắc không ít.

Lê Đỗ Huy

Nước Mỹ – cạm bẫy ngọt ngào chốn thiên đường

Posted on


Người nhập cư dễ thành “tù nhân” của những giá trị mang theo từ quê hương và bị giam cầm trong “cạm bẫy” của “thiên đường” với những giá trị và giấc mơ Mỹ. Hoà nhập không dễ nhưng quên hẳn nguồn gốc thì cũng không thể. Đó chính là sự “lênh đênh” trong chính tâm hồn những người nhập cư.

Báo cho người bạn, tôi sắp sang Mỹ làm việc dài dài, anh tròn mắt “Ở Việt Nam, công việc tốt, nhà cửa đầy đủ, nội ngoại quây quần, không hiểu cậu còn đi kiếm tiền làm gì. Hâm quá trời”. Trong suy nghĩ của anh, sang Mỹ chỉ vì tờ đô la xanh đỏ. Thời phổ thông, học lịch sử Columbus thám hiểm châu Mỹ rất thú vị, tôi quyết ra đi cho biết mùi vị xứ cao bồi tìm vàng.

Từ Hà Nội đầy khói bụi, còi xe ầm ĩ, không khí ẩm mốc của vùng nhiệt đới, sau 26 giờ bay đến Washington DC, cảm giác như từ cánh đồng trưa hè nắng gắt ở Quảng Trị bước vào một khách sạn có điều hòa mát lạnh.

George Washington Parkway. Ảnh: NVQuang

Xuống sân bay quốc tế Dulles đã thấy nước Mỹ hiện ra như trong mơ. Rừng cây xanh mát hai bên đường, những bụi hoa rực rỡ dưới nắng vàng. Đoàn xe hơi tưởng chừng dài như vô tận. Từ DC nhìn sang Virginia, những tòa nhà cao tầng lộng lẫy soi bóng bên dòng sông Potomac êm đềm trong chiều tà. Thấp thoáng những biệt thự trong rừng như cổ tích và những thảm cỏ xanh mông mênh. Bầu trời yên ả và không khí trong lành. “Giấc mơ Mỹ” và “thiên đường” này quả có thật, ít nhất là cảm giác của tôi lúc đó.

Như bao người lớn tuổi khác, tôi đến đất nước này và nghĩ sẽ ở một thời gian, học hỏi kinh nghiệm, trao dồi tiếng Anh và quay về. Gặp sếp người Pháp, ông tủm tỉm: “Tôi tới đây sáu tháng để công tác và muốn nâng cao trình độ tiếng Anh. Nhưng rồi sau 15 năm nay, tôi vẫn đang học…tiếng Mỹ”. Theo ông, Hoa Kỳ là cõi thiên đường với cạm bẫy ngọt ngào, người nhập cư bước vào, khó thoát khỏi vòng kim cô của American Dream.

Sự đa dạng của Hợp Chúng Quốc

Gặp người đồng nghiệp Mỹ đã từng trao đổi email trước đó, anh thản nhiên hỏi tôi “Anh từ nước nào tới đây, Thái Lan hay Trung Quốc?”. Tôi nhìn anh ta không chớp mắt: “Cha nội này nghĩ mình từ hành tinh khác đến chăng?” với cảm giác niềm tự hào dân tộc bị xúc phạm.

Nhưng ở thêm vài tuần, tôi phát hiện, người Mỹ bình dân không quan tâm bạn đến từ nước nào tới. Nếu biết từ Việt Nam, đôi người còn hỏi, hình như ở đó còn chiến tranh. Sự vô tâm của người Mỹ về nguồn gốc của một ai đó là hết sức bình thường. Có thể, bản thân hay dòng tộc là người nhập cư, hoặc người Mỹ thuộc về “toàn cầu”.

Thiên đường Eden của người Việt. Ảnh: HM

Kể từ năm 1620, khi chuyến tầu hành hương đầu tiên của người Anh cập bến New York đến nay, ngày ngày vẫn có hàng ngàn người nhập cư. Thời gian đầu phần lớn là người Anh, người Âu, rồi dân tứ xứ đến từ châu Phi, châu Á, và sau gần 400 năm đã làm nên Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ với hơn 305 triệu dân.

Trong dòng người đó, số người Việt ta cũng đáng kể, khoảng 1.5 triệu người Việt. Họ sống rải rác ở ở nhiều bang trong đó có phần lớn tập trung ở California và Texas. Khoảng 30-40 ngàn người Việt, phần đông có học vấn cao và công việc tốt ở Virginia và Maryland, cạnh thủ đô Washington DC.

Ở đây, mỗi người Việt có số phận bi tráng và nỗi buồn thương không giống ai. Thăm bất kỳ gia đình Việt nào cũng có thể nghe được một câu chuyện và sẽ hiểu tại sao họ gắn bó với vùng đất mới.

Người nhập cư và “giấc mơ Mỹ” (American Dream)

Đến Mỹ lần đầu tiên, bạn sẽ bị choáng ngợp bởi đất nước rộng lớn, nếp sống văn minh công nghiệp với nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Từ Đông sang Tây có bốn múi giờ khác nhau với 50 bang, riêng bang California đã có diện tích hơn Việt Nam ta. Người nhập cư đến từ các quốc gia nghèo, bất kể nguồn gốc nào, cao sang hay thấp kém, từ giới thượng lưu hay người bán phở của Sài Gòn xưa, đều thừa nhận “giấc mơ Mỹ” là có thật.

Nếu so sánh với quê nhà, từ người y tá, lái xe, công nhân xây dựng đến những nhân viên ngân hàng hay quản lý cao cấp, thu nhập tại đây như mơ. Với thể chế tam quyền phân lập dưới sự giám sát của quyền lực thứ tư là báo chí, cuộc sống ở xứ sở này khá an toàn vì luật pháp thượng tôn, lương bổng cao, chế độ bảo hiểm tốt, hưu trí đảm bảo, giáo dục miễn phí cho học sinh phổ thông, và cả vấn đề tự do, dân chủ, quyền con người.
Phố phường DC. Ảnh: Ngọc Dung

Góc phố DC. Ảnh: Ngọc Dung

Nhiều người đã nai lưng ra làm việc mong có tiền để trụ lại. Anh chủ quán trên đường Pennsylvania kể rằng, anh đi làm ở văn phòng, từ 9 giờ sáng đến 6 giờ chiều, đi thẳng tới quầy bar bán rượu giúp vợ bán phở kèm pizza và 2 giờ sáng mới về đến nhà. Có vài người giúp việc theo giờ nhưng hai vợ chồng vẫn lo từ mua hàng, nấu nướng đến rửa bát. Cuối tuần gần như thức trắng đêm vì khách đông. Ma lực ước mơ làm giầu đã giúp họ không cảm thấy mệt mỏi. Thật hạnh phúc khi làm ra của cải bằng chính sức lao động và được đền đáp xứng đáng.

Chăm chỉ, giỏi giang và chuyên nghiệp sẽ không bao giờ mất việc, cuộc sống được đảm bảo và thậm trí trở thành giầu có. Nhà cửa xe hơi được vay trả góp. Sau vài chục năm lao động lương thiện có thể làm chủ ngôi nhà nửa triệu đô la. Những người mất việc làm, vô gia cư hay ăn xin hầu hết là lười biếng, trộm cắp bị tù tội và không biết lượng sức mình trong chi tiêu, mới ra nông nỗi đó.

Tôi gặp một bác làm công việc hành chính ở cơ quan, ra đi từ 20 năm trước. Tuy có bằng luật thời Sài Gòn (cũ) nhưng sang đây lúc đã xế chiều nên bác nhận những việc lương thấp để nuôi ba đứa con. Vốn năng động, từ hai bàn tay trắng, bác đã gây dựng một gia đình rất đàng hoàng bên Virginia. Ba đứa con tốt nghiệp đại học, có bằng kỹ sư và bác sỹ đang hành nghề với lương rất cao.

Bác tâm sự “Ở Việt Nam, có lẽ tôi sẽ chỉ đủ sức cho một đứa vào đại học. Sang đây có chế độ vay tiền cho con vào đại học nên chúng mới được bằng cấp tiêu chuẩn quốc tế dù nhà nghèo”. Số phận đẩy bác sang một bến bờ khác. Kỳ diệu thay, bác thực hiện giấc mơ của mình với một cái nghề hết sức bình thường tại một nơi xa lạ. Đối với tôi, bác chính là thần tượng thành đạt trong American Dream.

Còn biết bao những gương mặt Việt thành công khác. Có người vào Nhà Trắng làm cố vấn hay làm ông chủ giầu có ở Silicon Valey. Phần đông người Việt Nam vốn yêu lao động, chịu khó làm ăn đã định cư bên Mỹ yên ổn và hòa nhập với xã hội dễ dàng.

Giá trị Mỹ – American Values

Nếu hỏi giá trị đất nước “con Rồng cháu Tiên”, không phải ai cũng trả lời được. Tương tự, đặt câu hỏi ”Giá trị Mỹ là gì?” rất dễ, nhưng trả lời lại rất khó và phức tạp. Tiến sỹ Thomas Grouling (Trung tâm nghiên cứu quốc tế, Đại học Drake) gói gọn trong mấy từ: Cá nhân, giáo dục, gia đình và riêng tư (individualism, education, the family and privacy). Ngoài ra, phải kể đến tự do cá nhân, tự lực cánh sinh, cần cù, cơ hội bình đẳng, vật chất, thời gian là tiền bạc hay kể cả sự cạnh tranh không khoan nhượng.

Đối với người Mỹ, vai trò cá nhân tối quan trọng. Nó được thể hiện trong cách xã hội phát triển, trong giáo dục, sinh hoạt gia đình, văn hóa và được luật pháp hỗ trợ. Các công ty gia đình hay của cá nhân đã đóng vai trò lớn trong nền kinh tế. “Làm ông chủ của chính mình” là một trong những “giấc mơ Mỹ” ngọt ngào nhất.

Đến trường, học sinh học tập một phần nhỏ trên lớp, còn lại sẽ phụ đạo tại gia, ngoài xã hội, thông qua các buổi đi thực tế, trao đổi và phản biện. Mỗi trường có mục tiêu đào tạo riêng, gia đình có thể tham gia vào chương trình dạy và học cho các em. Câu nói nổi tiếng “Bạn có thể trở thành bất kỳ ai” đã giúp cho nền giáo dục được định hướng theo phong cách tự học, hoàn thiện bản thân để trở thành người tốt nhất có thể, phát triển tài năng và vì thế đóng góp cho xã hội tối ưu nhất. Đất nước không câu nệ bằng cấp miễn là phải có khả năng, nên đã tạo ra thiên tài tin học như Bill Gates hay Steve Jobs, không tốt nghiệp đại học, nhưng giàu có nhất nhì thế giới.

Forest Garden ở New York. Ảnh: HM

Người ta nói gia đình là nền tảng của xã hội quả không sai. Ở Mỹ, trong gia đình, bố mẹ được con cái tôn trọng và ngược lại, con cái có thể tranh luận với bố mẹ một cách bình đẳng. Bố mẹ vào phòng con phải gõ cửa. Có nhiều cung cách ứng xử “muốn nói ngoa làm cha mà nói”, nhưng người Mỹ không chấp nhận cách sống hay quản lý áp đặt. Cha mẹ muốn khuyên con điều gì không thể ra lệnh hay cầm roi dọa mà phải “đàm phán” khéo léo đến khi đứa trẻ đồng ý.

Đến chơi nhà bạn bè, bạn sẽ được đón tiếp thân mật và bảo “cứ tự nhiên như ở nhà”. Họ tôn trọng sự lựa chọn cá nhân nên ít khi gắp thức ăn cho khách mà chỉ giải thích, món này có thịt bò, món kia thêm rau bắp cải. Khách nửa đêm lục tủ lạnh tìm đồ ăn hay ra hiên ngồi một mình cũng không ai hỏi tại sao.

Tôn trọng chốn riêng tư là một “giá trị Mỹ” khác. Nó thể hiện từ trong cách bố trí các phòng trong ngôi nhà đến quan hệ gia đình, bạn bè và xã hội. Khu nhà ở thường được thiết kế trong môi trường cây xanh và tĩnh lặng tuyệt diệu, xe cộ ít chạy qua. Ngồi trong nhà liên lạc internet với thế giới cả ngày không bị ai quấy hay làm ồn.

Câu chào đơn giản “Hello” không kèm theo những câu hỏi như ở Việt Nam ta dễ làm khách ú ớ kiểu: “Bác năm nay bao nhiêu, lương có khá không, chị nhà đi làm chưa?”. Một số người Mỹ không có gia đình, thường nuôi súc vật như chó, mèo, nên không thích ai hỏi về con cái hay bạn đời. Gặp dân “bóng”, lời chào “Hi” vô thưởng vô phạt sẽ tránh phải chọn cách chào “chị” hay “anh”.

Ở nước Mỹ, cái “tôi” trong mỗi con người chính là động lực của thành công. Người Mỹ luôn lạc quan vào ngày mai và tin rằng mọi việc sẽ ổn. Cách nhìn luôn hướng tới tương lai đã giúp xã hội tiến bộ trong khoa học, y tế và công nghệ mà các quốc gia khác đôi lúc chỉ nằm mơ.

Người đến Mỹ và mang theo văn hóa riêng vẫn được chào đón vì họ tôn trọng bản ngã con người, “bạn là bạn, tôi là tôi và cả hai làm nên chúng ta”. Bạn có thể giúp văn hóa của họ thêm phong phú, giống như người Mỹ cũng tìm cách gây ảnh hưởng với bạn. Họ coi việc giúp đỡ người khác là đạo đức và trách nhiệm.

Khu chợ Eden hay Bolsa của người Việt, phố Tầu của người Hoa, chùa chiền của đạo Phật hay thánh đường Hồi giáo được tôn trọng như những siêu thị Mỹ hay nhà thờ Thiên Chúa giáo. Sự đa dạng về dân tộc, văn hóa, phong tục và những bản ngã riêng của từng người đã góp phần phong phú thêm cho American Values.

“Mắc bẫy” trên “thiên đường”

Người bạn xứ Bangladesh cho tôi xem câu chuyện “Mắc bẫy trên thiên đường” (cùng tên một bộ phim Mỹ), viết về số phận những người nhập cư đến từ chính tổ quốc anh. Bài báo mô tả một người nhập cư lớn tuổi bị một nỗi giằng xé trong lòng “tấm thân phiêu bạt xứ người nhưng hồn ở quê nhà”.

Có lẽ câu chuyện trên đúng với bất kỳ người bỏ quê hương xứ sở ra đi khi đã trưởng thành, nơi chôn rau cắt rốn đã ăn sâu vào trái tim. Đó chính là cuộc đấu tranh trong lòng khi màn đêm buông xuống như người Việt ở Cali nhớ sông Hương êm đềm xứ Huế, hay bến Bạch Đằng nhộn nhịp ở Sài Gòn.

Quản giáo ở Thiên đường. Ảnh: NVQuang

Vừa muốn ở lại để con cái được học hành trong hệ thống giáo dục thuộc loại tiên tiến nhất thế giới, kiếm thêm tiền, hưởng môi trường tự do của xứ sở mà bản ngã con người được tôn trọng lại vừa muốn đứa con vẫn là người Việt Nam, nói hai thứ tiếng. Mong con như Mỹ nhưng lại muốn chúng biết khoanh tay chào, ăn cơm biết mời, gọi “dạ” bảo “vâng”.

Cách giáo dục và văn hóa phương Tây thường nuốt chửng thế hệ tương lai của những người nhập cư. Hầu hết, lớn lên thế hệ trẻ sẽ không biết nơi bố mẹ sinh ra ở đâu, thậm chí xem tivi, báo chí thấy cách đối xử bất công, chúng sẵn sàng ra đường biểu tình và mang “giá trị Mỹ” áp đặt vào chính tổ quốc của cha ông. Trong gia đình kiều dân hay có những cuộc tranh luận nảy lửa, xung đột văn hóa và những giá trị truyền thống mà phần thắng thuộc về thế hệ đã sinh ra trên đất Mỹ.

Thế hệ trẻ ấy lớn lên cùng ba má về thăm Sài Gòn với tiếng Việt lõm bõm. Thấy chó chạy rông định ôm mà không biết có thể bị cắn. Tuy nhiên, các cháu có một nền văn hóa “công dân toàn cầu”. Thuyết phục họ về cội nguồn với tình yêu quê hương thì đó lại trở thành kho báu mà người Mỹ tặng “không” cho đất nước.

Bố mẹ xứ Á châu thường không thích con gái yêu người da mầu. Tuy nhiên, cô gái lại được giáo dục “phân biệt chủng tộc là điều cấm kỵ” nên vẫn ôm anh da đen hay Mễ Tây Cơ. Phụ huynh đành ngậm ngùi: “Kệ cha chúng mày”.

Người nhập cư dễ thành “tù nhân” của những giá trị mang theo từ quê hương và bị giam trong “cạm bẫy” của thiên đường với những giá trị và “giấc mơ Mỹ”. Hòa nhập không dễ mà quên hẳn nguồn gốc thì cũng không thể. Đó chính là sự “lênh đênh” trong chính tâm hồn những người nhập cư.

Rất nhiều người sau khi đã có việc làm và thu nhập ổn định, bắt đầu quen với cách sống của người bản xứ. Họ mua nhà, sắm xe rồi các tiện nghi, kéo theo trả lãi ngân hàng trong thời gian 20-30 năm, cuối cùng chính họ không thể ra khỏi vòng quay cuồng đó. Sợ mất số tiền đã đầu tư nên họ phải cố giữ lấy việc làm, kiếm thêm và cuối cùng kết thúc trong cái “bẫy bằng vàng” của đồng đô la.

Con cái và tương lai của chúng cũng là nguyên nhân khác dẫn đến bố mẹ bị “giam cầm” ở chốn này. Định cho con học một hai năm rồi về nước, nhưng họ cũng nhận ra nền giáo dục ở đây là niềm mơ ước của bao người ở quê nhà, nên thời gian trôi đi, những đứa trẻ lớn lên và chuyện trở về quê cũng mờ theo. Anh bạn tôi gọi đùa chúng là “quản giáo” của cha mẹ ở “thiên đường”.

Hàng năm, bốn năm triệu người Việt tha hương gửi hàng chục tỷ đô la giúp thân nhân trong nước. Nếu biết rằng, kiếm được đồng tiền ở nước ngoài, tiết kiệm gửi về, tốn không ít mồ hôi và nước mắt, sẽ đánh giá được hết tấm lòng của họ với quê hương. Và cũng nên hiểu thêm nỗi giằng xé trong tâm can mỗi người nơi viễn xứ.

Thu vàng. Ảnh: NVQ.

Ai đó mong đến Mỹ để hưởng thụ mà không phải làm gì, nên chuẩn bị túi ngủ để tham gia đám vô gia cư. Định hối lộ hay phong bì cho nhanh việc sẽ kết thúc trong trại giam. Không phải người nhập cư nào cũng may mắn tìm được “giấc mơ Mỹ”. Đất nước này khắc nghiệt nhưng cơ hội cũng rất công bằng cho tất cả mọi người.

Nếu không có tài hay chút may mắn có thể thành người sống chui lủi, làm những công việc rẻ mạt để một ngày kia bị trục xuất. Người chủ thuê trả công thấp vì dân nhập cư thân phận, ngôn ngữ yếu, lại không nắm được luật pháp, dễ bị tư bản cá mập nuốt chửng. Người ta nói, luật pháp Mỹ rất công minh khi có nhiều tiền thuê luật sư hoặc biết…luật. Nếu không, sống ở nơi luật rừng tốt hơn.

Nhớ ngày nào mới đến, đứng trên nóc Trung tâm Kennedy ngắm DC lúc chiều buông, tôi chợt nhớ quê đến nao lòng, khi nhìn mặt trời lặn phía Tây xa xa và thầm hứa sẽ quay về. Năm năm đã qua, tôi lờ mờ hiểu chính mình cũng đang vùng vẫy trong cái “bẫy vô hình” ở chốn này. Sợ nhất một ngày kia, cậu con trai tôi cũng sẽ hỏi đồng hương Việt: “Quí ông là người Lào hay Nhật”.

Mỗi lần gọi điện về quê, câu hỏi nghẹn ngào đầu tiên của mẹ tôi: “Bao giờ đưa các cháu về thăm nhà” hoặc: “Con cứ về, ở nhà cơm cháo có nhau hơn là giầu sang nơi đất khách. Mẹ thương nhớ các cháu lắm”. Biết mẹ già không còn nhiều thời gian trên trái đất này, nhưng vì con cái, công việc và vài thứ cám dỗ nơi đây nên tôi lấn cấn nỗi lòng “kẻ ở người đi” khi hứa liều: “Con sẽ về”.

Mỗi ngày có hàng triệu người muốn đến nước Mỹ như tôi đã ước mơ thuở nào. Ít ai tới “thiên đường” lại bỏ đi. Tuy thế, khi tới sân bay Dulles, để ý phía cửa xuất cảnh cũng thấy khá đông người. Với một số người, giấc mơ sang Mỹ tìm vàng đôi khi thành ác mộng. Với số khác, không muốn làm “tù nhân” nơi đây, nên họ quay về trần gian nơi cố hương để xây thiên đường cho chính mình.

Hiệu Minh

Washington DC, 11-2008.