Month: Tháng Mười Một 2011

Thế hệ 9X: Làm quan hay làm ăn?

Posted on Updated on


Tác giả: Alan Phan

Có lẽ các bạn trẻ Việt không hứng thú nhiều đến chuyện làm ăn như chúng ta đã lầm tưởng?

Cuối tuần qua, tôi được mời đến Đại Học Ngân Hàng ở Thủ Đức để tản mạn cùng các bạn sinh viên trẻ về cơ hội khởi nghiệp trong năm Thìn mà nhiều kinh tế gia thế giới dự đoán là năm của biến động và suy thoái. Nhóm tổ chức hội thảo gồm 6 đại học liên đới có tổng cộng 45 ngàn sinh viên. Chỉ khoảng 100 người hiện diện, dù sáng thứ Bảy 19/11 là một ngày đẹp trời. Tôi nhớ buổi nói chuyện, cũng miễn phí và cùng đề tài, ở đại học Fudan, Thượng Hải 10 năm về trước. Có đến hơn 2,000 sinh viên chen nhau trong mưa, ban tổ chức phải dời địa diểm đến nơi lớn hơn.

Máu kinh doanh?

Có lẽ các bạn trẻ Việt không hứng thú nhiều đến chuyện làm ăn như chúng ta đã lầm tưởng? Hay là vì ngày hôm đó, một bạn trẻ giải thích, các sinh viên đều muốn nghỉ ngơi để lấy sức tối nay đi bão. Trận bóng đá với Indonesia để vào chung kết giải SEA games là một chờ đợi từ hai năm nay và rất quan trọng cho niềm tự hào dân tộc. Nhưng dù thế nào, đơn giản đây chỉ là một buổi nói chuyện không lấy gì làm thú vị cho các sinh viên ngành kinh tế và ngân hàng. Hay tại hai diễn giả, tôi và TS. Nguyễn Mạnh Hùng, không đủ kỹ năng và kinh nghiệm?

Trong cái quan sát phiến diện của tôi qua nhiều quốc gia, những dân tộc thích làm ăn thường có mức sống và thu nhâp khả quan hơn các bạn láng giềng. Phi thương bất phú mà? Dĩ nhiên, còn rất nhiều yếu tố khác liên quan và ảnh hưởng, như môi trường văn hóa, cơ chế chánh phủ, thời cơ thuận lợi hay tài nguyên dồi dào. Tuy nhiên, nếu giữ các mẫu số chung khác đồng đều, thì tựu trung, một người Mỹ vẫn thích kinh doanh hơn một người Mexican, người Tàu thích buôn bán hơn người Mã Lai, người Đức thích làm ăn hơn người Tây Ban Nha?

Máu làm quan?

Riêng về chúng ta, một ông Pháp nào đó có câu phê bình là trong mỗi người Việt Nam đều hiện diện một ông quan nhỏ (un petit mandarin). Qua bao thời đại, mộng ước của phần lớn thanh niên Việt là học giỏi để đỗ cao và làm quan. Bài thơ “Trăng Sáng Vườn Chè” là một thể hiện của giấc mơ Việt. Lấy được công chúa để làm phò mã là trúng số độc đắc.

Ảnh: Sinh vien Duoc

Gần đây, sau khi một số đại gia mua máy bay riêng, biểu diễn siêu xe và cặp kè chân dài, giới doanh nhân mới được để ý và tạo vài ấn tượng đến các bạn trẻ. Tuy nhiên, lấy tiền của bố mẹ để khoe khoang thì vẫn thỏai mái hơn là đầu tư vài chục năm công sức vào một dự án kinh doanh. Lý tưởng tuyệt vời nhất là dùng thế lực “con cháu” để được bổ nhiệm làm quản lý một tập đoàn quốc doanh. Vừa có tiền vừa có quyền.

Con đường vất vả

Trong buổi hội thảo, tôi nói về 6 yếu tố căn bản của mọi thành công bền vững trên thương trường: động lực, sức khỏe, thời gian, hành động, kiến thức và may mắn. Tôi nói thêm về những thất bại sẽ đến, ý chí để tiếp tục giữ lửa, và những sáng tạo liên tục để duy trì lợi thế cạnh tranh. Sau đó, một bạn trẻ phê bình là sao quy trình thành công của chú mệt mỏi quá vậy? Chú chỉ cho cháu “một con đường tắt để đón đầu” đi. Tôi trả lời là nghe nói ở đây, đường tắt cũng vất vả, sao cháu không thử gõ cửa sau của căn nhà cháu muốn đến?

Tôi cũng nói về mặt trái của kinh doanh: những áp lực hàng ngày từ mọi phía, những trách nhiêm với nhân viên, cộng đồng và những chuẩn mực đạo đức để tạo một thương hiệu lâu dài. Đây là những gánh nặng có thể làm suy sụp sức khỏe cá nhân, hạnh phúc gia đình và mục tiêu đời sống. Do đó, tôi hoàn toàn thông cảm với lựa chọn của bạn trẻ về một con đướng an nhàn hơn khi ra trường; việc tốt nhất là chạy chọt được một chỗ trong các công sở nhiều bổng lộc.

Con đường mơ ước

Sau 5 ngàn năm tiến hóa của nhân loại, định luật Darwin không ứng dụng ờ Viêt Nam. Một anh trưởng thôn hay trưởng xã vẩn oai quyền và sống sung túc như thời phong kiến hơn trăm năm trước. Có lẽ vì văn hóa và truyền thống, người dân vẫn phải co rúm như một con sâu khi đối diện với một ông quan, dù là quan làng. Khác với tư duy cùa các dân tộc Âu Mỹ: lương anh chị lấy từ tiền thuế của tôi thì tôi là người chủ, trả lương cho anh chị để được phuc vụ.

Vào năm 2007, tôi có dịp đến Sở Kế Hoạch Thành Phố để ký vào một văn kiện gì đó trong việc xin giấy phép kinh doanh. Buổi trưa trời nóng như thiêu đốt và tôi muốn đi bộ sau bữa ăn no cho tiêu cơm. Chiếc quần ngắn và cái áo thun là một giải pháp hợp lý. Khi đến cổng, hai ông bảo vệ không cho tôi vào. Tôi hỏi lý do và được biết là lối ăn mặc của tôi “tỏ thái độ vô lễ” với các ông công bộc đang ngồi trong phòng lạnh. Sau một biện luận chừng 5 phút, tôi phải rút lui vì phản hồi của hai ông bảo vệ rất logic và vững vàng. Thuyết phục nhất là lời đe dọa sẽ “nhốt tôi” nếu còn cãi bậy.

Thế giới chúng ta

Cũng trong buổi mạn đàm, tôi nói về một chuyến xe buýt buổi sáng ở Copenhagen năm 1966. Tôi đứng cạnh ông Otto, Thủ Tướng Đan Mạch, vì xe đông người không còn chỗ ngồi. Ông ta đang trên đường đi làm hàng ngày và dù chào hỏi nhau thân mật, không hành khách nào có ý định nhường chỗ cho ông quan lớn. Sau khi nghe chuyện, một cô sinh viên nói là cô nghe như chuyện khoa học giả tưởng. Cô hỏi tôi cái thế giới ngoài kia đã vào thế kỷ 21 rồi phải không thầy?

Vì chúng ta còn sống trong quá khứ, tôi hiểu ra là thế hệ “trí thức” tiếp nối của Việt Nam vẫn coi chuyện làm quan là con đường của lựa chọn. Làm doanh nhân vất vả và mất nhiều thời gian quá. Chỉ có một ít anh chị ngu và liều hay nghèo và cô đơn mới đi vào đường này. Tôi ra về, buổi trưa nắng gắt, nhưng ở chân trời, những đám mây đen đã mù mịt. Trời sẽ mưa to chiều nay. Một bài hát xưa cũ bổng vang vọng…

“Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn…còn nhiều em ơi…”

TS. Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan đã xuất bản 7 cuốn sách bằng Anh và Việt ngữ về kinh tế tài chánh của các quốc gia mới nổi. Ông tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là gocnhinalan@gmail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.

Người Việt gian và tham?

Posted on Updated on


Tác giả: Trần Thành Nam
Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình.

Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan, nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập… Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời.

Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quí trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quí, Lương tâm Nhân loại…(!), và luôn ép người khác khen mình.

Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ – một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị: Mỹ và TQ lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang TQ và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi.

Đấy là lý do trực tiếp làm tôi viết bài này, nên trước khi nói về người Việt như tiêu đề, xin cho tôi có một hai câu về “Lá cờ Nhân văn” thế giới, như sau: Ông Vũ đã đúng khi nói có Lá cờ Nhân văn thế giới.

Nhưng ông đã sai khi nói chưa có ai nắm lá cờ đó, và ông càng sai nữa khi nói Việt Nam có thể nắm lấy Lá cờ đó và lãnh đạo thế giới!

Nếu đã tồn tại một lá cờ nhân văn thế giới, thì nhất định nó cũng đang tồn tại chủ nhân tương xứng, cả hai đều chỉ là khái niệm. Chủ đó phải là dân tộc có tính nhân văn nhất thế giới và được các dân tộc khác công nhận, bởi lá cờ này không thể cướp được, đúng không ạ?

Ông Vũ nói nó vô chủ là rất cơ hội (hèn chi ông được tham dự ĐH Đảng X với tư cách doanh nhân, nếu tôi không nhầm?).

Nhưng theo tôi, nó đang ở trong tay dân tộc nào, đất nước nào đang có nền văn hóa nhân văn nhất (ở thời điểm này) thu hút được nhân tài và thế hệ trẻ được cả thể giới đến học, làm việc và ở lại sống nhiều nhất, sinh ra nhiều người tài năng và thành công nhất cho thế giới.

Theo ông Vũ, đó sẽ là Việt Nam? Nước ta đang và sẽ thu hút được bao nhiêu người nước ngoài đến học? Ông hãy góp ý thế cho ĐH XI nhé! Chúc mừng ông.

Trở lại với tiêu đề chính, cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực: “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, ‘mày’ sẽ nói thế nào?” “Không được rắc complements!”

Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn nói luôn: “Câu hỏi này, người nước ngoài chúng tôi ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Anh là người VN đầu tiên hỏi câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tôi sẽ nói thật, đó là: Greedy Vietnamese” Vâng, đó là: “Người Việt tham lam!”

Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn, vì biết bạn mình không nói dối: “Greedy? Why?” -“Tham lam? Tại sao?”.

Bạn tôi cười: “Thì người Việt các anh, trừ anh ra, (anh ấy thương hại tôi!), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ: Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và … hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất!”.

Tôi chết đứng! Tôi biết anh ta nói đúng hoàn toàn. Anh ấy làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi. Anh ta (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì đã thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với họ.

Tôi đã từng đàm phán với anh ấy cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent nào từ vô số hợp đồng ngoại thương, mà tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi bạn tôi hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị họ cười khinh.

“Vậy, tính từ thứ hai “các anh” (tôi đã từng cùng anh ta có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp…do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì?”.

Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là: “Tricky!”, “Tricky Vietnamese!” – “Gian! Người Việt hay gian!”.

Tôi hét lên: “Không thể nào! Anh đang trêu tức tôi đấy chứ?!” Bạn tôi trả lời: “Anh muốn tôi trung thực mà?”

“Vậy tại sao lại là gian?” tôi cố gắng chịu đựng. “Vì các anh không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Các anh luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…”.

Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên. “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt!

Nhưng nội dung và diễn biến của cuộc nói chuyện thân tình trên thì tôi dù muốn cũng không bao giờ quên được. Sự thực là tôi đã phải trăn trở rất nhiều, dằn vặt rất nhiều với điều này từng ngày từ đó: Đặc điểm bản chất của người Việt là gì so với người nước khác? Tại sao người nước ngoài lại đang nhìn chúng ta tệ hại như thế: Gian và tham?

Tôi đã không thể phản bác được ông bạn người Anh của mình dù tôi với anh ta “cùng ngôn ngữ”: đều mê The Beatles! Có ăn nhằm gì đâu! Anh ấy vẫn bảo lưu quan điểm!

Một lần gần sau đó tôi trở lại đề tài “Tại sao anh nói người Việt rất tham lam, cái gì cũng muốn, và gian, cái gì cũng khôn lỏi hơn người, mà anh vẫn làm ăn với chúng tôi?”.

Bạn tôi cười bí hiểm trả lời: “Đấy chính là bi kịch của người Việt, ít nhất là của những người Việt đang không có quyền thế hiện nay.”

Rồi anh ta tiếp: “Chính vì người Việt gian và tham nên chỉ có những người gian và tham hơn mới dám làm ăn cùng các anh!”.

“Ý anh nói đa số thương nhân nước ngoài làm việc với VN là gian và tham?” “Gần như đúng thế!” “Cả anh nữa?”.

“Gần đúng, vì lúc đầu tôi cũng không gian, nhưng tôi mất nhiều quá và buộc phải chơi theo cách của người Việt thôi…”.

“Vậy anh gian thế nào?” Bạn tôi lại cười bí hiểm: “Nói mày đừng buồn, đa số người Việt kém tiếng Anh, và hầu hết kém luật pháp thê thảm, nhất là luật thương mại. Càng chức to thì điều này càng đúng, anh là lính quèn nên khá giỏi. Hì hì, mà tiếng Anh là của bọn tớ, luật pháp các nước khác cũng đều đi trước VN, nên chúng tớ chỉ có cách dùng tiếng Anh kém cỏi vô nghĩa của chính các anh để làm hợp đồng thương mại, và luật thương mại quốc tế nữa… thì chúng tớ mới bình đẳng được!”

Greedy Man. Ảnh: internet

Rồi nó bồi thêm: “Thế mày nghĩ bọn tớ có thể cung cấp hàng tốt nhất, giá rẻ nhất, thời hạn nhanh nhất với trách nhiệm vô hạn được thật à?!”

Đó là câu chuyện của hơn 10 năm trước. Tôi đã kiểm tra độ khách quan của đánh giá đó suốt 10 năm qua với rất nhiều người nước ngoài từ các vùng, miền, đất nước có văn hóa và chính trị khác nhau, mà tôi có thể tiếp cận.

Đa số câu trả lời kiểm chứng (không phải tất cả) xác nhận sự khách quan và tính gần đúng của nhận xét của bạn tôi. Nhận xét đó đã bắt tôi suốt hơn mười năm qua phải tìm hiểu văn hóa và bản chất dân tộc ta là gì?

Tại sao chúng ta lại để đến nông nỗi này?! Để người khác nghĩ và đánh giá mình là dân tộc gian, tham?! Người Việt gian tham ư?!

Đau xót lắm, nhưng tôi vẫn không phản bác được bạn mình, với những gì tôi và chúng ta vẫn thấy xung quanh trên đất nước chúng ta. Nó là cái văn hóa gì?!

Hôm nay, có lẽ tôi đã trả lời được câu hỏi đó cho mình. Dân tộc ta không phải thế! Có những hạt sạn đã được vô tình hay cố ý gieo vào đạo đức, lối sống dân ta mà có lẽ người gieo cũng không muốn và không biết mình đã làm gì?

Chúng ta phải đợi đến vụ gieo hạt sau thôi?

GS-VS Phạm Song – Ngã xuống như một chiến sĩ ngoài mặt trận

Posted on Updated on


“Giáo sư Phạm Song đã ra đi ngay tại một hội nghị về y tế, khi ông vừa hoàn thành bài phát biểu của mình, ông đã ngã xuống như một chiến sĩ ngoài mặt trận – mặt trận chiến đấu vì sức khỏe toàn dân” – Tôi đã xúc động như vậy về Giáo sư – Viện sĩ Phạm Song khi hay tin ông từ trần hôm 8/11.
1. Lần đầu tiên, tôi được gặp GS-VS Phạm Song trong một văn phòng khiêm tốn trên phố Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội, đó là năm 2004, khi ấy ông đang là Chủ tịch Hội Dân số & Kế hoạch hóa Gia đình. Tuy chưa hề biết mặt tôi, nhưng ngay khi tôi bước vào, ông đã vồn vã đón tiếp như thể chờ sẵn và hỏi ngay tôi đến vì một việc đã có hẹn trước. Dường như tính chính xác của ông đã được rèn luyện công phu từ rất lâu.

Đó là ấn tượng ông để lại trong tôi thật là đậm nét. Công việc và cuộc sống đổi thay bất ngờ, khó tiên liệu, run rủi sao, đến năm 2006 tôi trở lại gặp GS khi ông là Chủ tịch Tổng hội Y học (THYH) Việt Nam và từ đó đến tận ngày ông ra đi vào cõi vĩnh hằng, là khoảng thời gian tôi đã được làm việc và gần gũi bên ông.

Là một thầy thuốc trưởng thành từ thực tế lâm sàng, rồi trở thành nhà khoa học, nhà quản lý hàng đầu ngành y, ở trong ông là sự kết tinh của đời sống thực tại, triết lý khoa học và tầm nhìn mang tính định hướng. Ở trong ông là những chặng đường làm việc tiếp nối không ngừng nghỉ, dường như mỗi một cương vị, khi chưa chấm dứt công việc cũ ông đã bắt tay ngay vào công việc mới, dường như nếu có một ngày không làm việc, đối với ông có lẽ là một ngày chết.

Với cương vị là Chủ tịch THYH Việt Nam, ông là người ủng hộ mạnh mẽ, dứt khoát việc bắc một nhịp cầu giữa bến hàn lâm y học và bờ bãi bên kia là đời sống, là nhân sinh. Không có điều kiện trực tiếp làm công tác cộng đồng, nhưng chính ông đã thẳng thắn phát biểu, bất cứ hoạt động nào liên quan đến phục vụ cộng đồng, mang lại lợi ích cho cộng đồng ông đều hết mình nâng đỡ và ủng hộ.

Trong nhiệm kỳ Chủ tịch THYH Việt Nam, ông đã đưa cơ quan THYH gần gũi với đời sống, được xã hội biết đến nhiều hơn, cho dù như ông đã từng nói đại ý rằng “nếu không muốn mắc sai lầm, xin cứ làm thần thánh hoặc ở trong bụng mẹ”. Chính vì lẽ đó, bất kỳ một sự kiện nào tại cộng đồng, nhất là tại học đường, khi được mời, GS đều vui vẻ, nhiệt tình nhận lời, không bao giờ sai hẹn và lúc nào ông cũng đến sớm 10 phút, đặc biệt không bao giờ ông ra về trước khi sự kiện kết thúc, ông nói, đó là phép lịch sự tối thiểu, thể hiện sự tôn trọng với mọi người.
Sự xuất hiện của ông cùng những lời chỉ dẫn súc tích, bằng ngôn ngữ giản dị, tác phong hoạt bát, nhanh nhẹn, hòa đồng, ông luôn mang đến cho người nghe sự phấn khích tự nhiên. Trong rất nhiều trường hợp, ông đã phải đóng vai hoạt náo viên khuấy động không khí trầm lặng vốn có của những cuộc mang tính nghi lễ, hội họp.

2. Cũng trong khóa Chủ tịch của mình, khi tôi hỏi tâm nguyện của GS là gì trong nhiệm kỳ này? Ông trả lời ngay như đã thường trực sẵn trong đầu, đó là GS Phạm Song luôn nhiệt tình truyền đạt kiến thức y học với các đồng nghiệp trẻ và người bệnhcùng các GS của THYH hoàn thành cuốn từ điển bách khoa y học, xây dựng một tờ báo của THYH mà nhiều đời chủ tịch mong ước vẫn chưa thành hiện thực và bên cạnh đó sẽ hoàn thành một số cuốn sách còn dang dở. Khi viết những dòng này, vẫn hiển hiện rõ nét trong tôi hình ảnh ông với căn phòng làm việc ở ngôi nhà 68A Bà Triệu và tại tư gia với ngổn ngang, bộn bề sách vở, rất nhiều cuốn trong số đó, với văn hóa đọc đang suy giảm đáng sợ như ngày nay, chỉ nhìn vào có lẽ chúng ta đã phát hoảng bởi độ dày của nó.

Làm Chủ tịch THYH trọn một khóa, vừa hết nhiệm kỳ, GS đã lại lao ngay vào công việc vốn như cái nghiệp buộc vào thân, đó là lĩnh vực truyền nhiễm. Ông được xem là người đặt nền móng cho ngành lâm sàng các bệnh nhiệt đới Việt Nam, cùng với đó là những trăn trở khôn nguôi về công tác tổ chức y tế, ông cũng là người khởi xướng và đau đáu với chính sách bảo hiểm y tế toàn dân, suy tư về y tế công – tư lẫn lộn, ông thường quan niệm, y tế công cần đáp ứng nhu cầu đại chúng, y tế tư nhân giải quyết nhu cầu điều trị kỹ thuật cao, một khi chưa tách bạch được điều đó, theo ông sự quá tải bệnh viện và nạn phong bì bệnh viện vẫn là bài toán nan giải chưa có hồi kết.

GS Phạm Song đã ra đi ngay tại một hội nghị về y tế, khi ông vừa hoàn thành bài phát biểu của mình, không kịp chia tay, nhắn gửi một lời với đồng nghiệp, không kịp một lời trối trăng với thân quyến, ông đã ngã xuống như một chiến sĩ ngoài mặt trận – mặt trận chiến đấu vì sức khỏe toàn dân. Tôi biết, một phần tâm nguyện của ông còn để lại.

Giờ này, GS Phạm Song đã về cõi vĩnh hằng, trở thành người thiên cổ, mai đây, nắng và gió nơi nghĩa trang sẽ trải, sẽ thổi ngàn thu, ru ông, đưa ông đi tiếp vào cõi hư không, cõi tận cùng của kiếp người. Cho dù, tâm nguyện nơi trần thế của ông chưa trọn, tôi tin và cầu chúc cho ông thảnh thơi, yên nghỉ.

BS. Hòa Minh Tân

“Nhà kiến thiết” ngành lâm sàng nhiệt đới

GS-VS Phạm Song là nhà kiến thiết, xây dựng ngành lâm sàng nhiệt đới Việt Nam. Ông sinh năm 1931 tại xã Sơn Long, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Năm 1982 ông làm Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô. Năm 1984, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm – Trường Đại học Y Hà Nội.

Từ năm 1988 đến 1992, ông là Bộ trưởng Bộ Y tế. Trước khi mất, ông giữ chức Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam.

Ông đã vinh dự được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cùng danh hiệu Thầy thuốc nhân dân; Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất và nhiều huân, huy chương khác.

Năm 2000, ông là viện sĩ Viện hàm lâm Y học Liên bang Nga về hệ thống và biện chứng.