Month: Tháng Mười 2011

Những nguyên tắc để lấy được chồng tốt

Posted on Updated on


Nguyên tắc chung: Ngu thì chết, bệnh tật không tự nhiên sinh ra
Điều này có nghĩa là đàn ông không “tự dưng xấu”. Nhiều bạn lấy làm ngạc nhiên rằng người chồng mình sao trước, và sau khi cưới lại khác đến vậy. Trước kia anh ta dịu dàng, galant, sạch sẽ, còn sau khi cưới anh ta cục cằn, vô học, bẩn thỉu, một sự biến đổi thần kỳ chăng?
Không, cái người đàn ông cục cằn, vô học, bẩn thỉu ấy không tự nhiên sinh ra. Anh ta vẫn ở đó, ở trong cái lớp vỏ dịu dàng sạch sẽ lãng mạn ấy, chỉ có điều bạn không nhận ra thôi. Vì thế, lấy chồng tốt hay chồng xấu không phải là sự may rủi, điều đó phụ thuộc vào chính bạn, và chỉ bạn mà thôi. Bạn chọn đúng, bạn sẽ được hàng tốt, bạn chọn sai, bạn vớ phải hàng dởm. Nếu bạn không biết cách làm “người tiêu dùng thông thái”, thì chẳng có gì ngạc nhiên khi bạn bị ngộ độc, bị thương tích, bị ốm đau vì chính thứ hàng tự tay mình mang về.
Nếu bạn mua phải một con cá ươn, thì đó là do số phận, hay do bạn đoảng?
Vâng, xin hãy nhớ nguyên tắc đầu tiên: Bệnh tật không tự nhiên sinh ra, ngu thì (phải) chết.
Nguyên tắc 2: Yêu là chọn lựa
Nguyên tắc này còn được gọi là nguyên tắc: Không tin vào sự lãng mạn nhảm nhí.
Yêu là cái gì? Các bạn nhà văn, nhà thơ từ xưa đến nay đã tô vẽ, thần thánh hóa, huyền bí hóa, ngu xuẩn hóa tình yêu một cách triệt để, nào là yêu là hy sinh, yêu là hết mình, yêu là không biết tại sao yêu thì mới là yêu, yêu là không bao giờ nói lời hối tiếc blah blah… Tín đồ trung thành nhất của những cái tuyên ngôn hũ nút này tất nhiên là các bạn gái.
Các bạn quên mất hai điều quan trọng.
Thứ nhất, nhà văn nhà thơ là những kẻ thần kinh không bình thường, và nói chung là có cuộc sống không bình thường. Họ nhìn, đánh giá, cảm nhận cuộc sống theo một cách khác chúng ta, và thông thường là cực đoan. Họ không có cuộc sống bình thường chính là vì những suy nghĩ, cảm xúc có phần thái quá, lệch lạc đó. Vì thế trừ phi bạn cũng muốn sống như họ, còn không thì đừng có nghe họ.
Thứ hai, những kẻ hay tuyên truyền cho mấy thứ yêu là hy sinh, yêu là hết mình, yêu là không biết tại sao yêu thì mới là yêu, yêu là không bao giờ nói lời hối tiếc đó là ai? LÀ ĐÀN ÔNG. Tại sao? Bởi vì những điều đó có lợi cho đàn ông.
Với bản năng truyền giống của mình, đàn ông cần có những người đàn bà ngốc nghếch, dâng hiến, mù quáng… để có thể dễ dàng thực hiện chức năng giống nòi (cái này là do bản năng, ko phải cố tình đâu). Những người phụ nữ thông minh, biết cân bằng cảm xúc và lý trí tất nhiên không có lợi cho việc reo rắc gen khắp nơi, vì thế cần ngu hóa họ, đánh vào cảm xúc của họ, làm lạc lối họ. Cách tốt nhất là mang một thứ vô hình, khó xác định là tình yêu ra để làm công cụ.
Những cô gái bị ảnh hưởng bởi sự tuyên truyền một cách hoang tưởng về tình yêu này sẽ lao vào tình yêu (và đàn ông) như một con thiêu thân mù quáng. Không nghĩ, và không dám nghĩ, (sợ bị coi là “không biết yêu”) đến việc tìm hiểu, đánh giá, nhận xét, cân nhắc về cái người mà nhiều khả năng mình sẽ lấy làm chồng, cái người có ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc cả đời mình. Yêu là không thể lý giải được, yêu là không tính toán, yêu là đi theo tiếng gọi trái tim v.v. Ok tốt thôi, đến lúc bị một thằng chồng vũ phu đánh đập, bị bà mẹ chồng nanh ác chửi bới… thì mang trái tim ra mà đền nhé.
Tóm lại: Yêu là quá trình phát triển cảm xúc, và đặc biệt là sự tìm hiểu, chọn lựa cần thiết đối với người bạn yêu. Lý trí cần cho tình yêu cũng như trái tim vậy. Kẻ nào nói với bạn tình yêu không cần lý trí, ấy là bởi vì kẻ đó chẳng có tí trí óc nào. Còn nếu bạn cũng muốn mình không có trí óc như vậy, thì hãy xem lại nguyên tắc số 1.
Nguyên tắc 3: Tình yêu chẳng giúp được gì
Tại sao phụ nữ khổ hơn đàn ông? Bởi vì họ ít lý trí hơn. Phụ nữ suy nghĩ bằng trực giác, bằng cảm tính, cảm xúc, mà những cái này thì rất dễ tác động. Có nghĩa là lừa phụ nữ thì dễ hơn là lừa đàn ông. Mà chả cần phải lừa, tự họ lừa họ là đủ rồi.
Điều phụ nữ tin tưởng nhất là gì? Có tình yêu là sẽ vượt qua tất cả? Oh, thật là buồn cười, thật là ngớ ngẩn. Giống như bọn nghiện vậy, có thuốc là chúng tin rằng có thể tự mình xây dựng được cả thiên đường cho bản thân, nhưng ai cũng biết thiên đường của nghiện thì hết cơn say thuốc là hết sạch, thiên đường của những kẻ coi tình yêu là phép màu cũng sẽ chết sau ngày cưới Khi dân nghiện say thuốc, chúng có cảm giác chúng trở thành siêu nhân có thể bay như chim, khỏe như gấu, vui như tết. Khi phụ nữ yêu họ cũng có cảm giác y như vậy, chính vì thế họ nghĩ rằng chừng nào cái cảm giác say sưa này còn tồn tại, họ có thể vượt qua tất cả, nào là cải tạo đàn ông, nào là khuất phục được mẹ chồng khó tính, nào là gánh vác được họ hàng nhà chồng blah blah…
Kết cục thì sao? Bọn nghiện thân tàn ma dại, kết thúc cuộc đời sau khi nhận ra những gì xảy ra trong cơn say của mình là không có thật. Còn phụ nữ mù quáng cũng thân tàn ma dại sau khi nhận ra rằng cơn mê tình chẳng giúp họ đương đầu tốt hơn với những khó khăn trong cuộc sống gia đình, ngược lại, những khó khăn đó làm họ tỉnh mộng, và rốt cục tình thì chẳng còn, lại đeo thêm mấy cục nợ đời.
Vì thế, hãy luôn nhớ rằng, tình yêu là con chim nhỏ, xinh xắn, yếu ớt. Nó không giúp bạn vượt qua chông gai thử thách gì đâu, ngược lại, bạn còn cần phải chăm sóc, bảo vệ, o bế nó các kiểu nếu không muốn nó chết. Muốn chăm sóc nó như thế, bạn phải có thời gian, phải có sức khỏe và tâm trạng tốt, mà những thứ đó không có được nếu cuộc sống của bạn quá khó khăn. Tất nhiên đôi khi nó giúp bạn, làm cho cuộc sống của bạn thêm dễ chịu, nhưng phần lớn thời gian thì bạn là người phải giúp nó, chăm nó. Khi bạn không có gánh nặng gia đình, khi người đàn ông của bạn vẫn còn nồng nàn (đang trong giai đoạn chinh phục thử thách mà) thì việc nuôi một con chim nhỏ xinh xắn rất là đơn giản, và nó hót cho bạn vui suốt cả ngày. Nhưng khi bạn đầu bù tóc rối mặc bộ đồ nhàu nát cọ sàn vệ sinh thay cho osin trong nhà chồng, thì cái con chim ấy chẳng những không hót nữa, mà còn sẵn sàng ốm chết lúc nào không biết. Còn chồng bạn, luôn sẵn sàng nuôi một con mới (bản năng thôi, không cố tình đâu).
Đối thoại:
– Tình yêu ơi, tao khổ quá, sao mày không giúp tao vượt qua khó khăn?
– Tao có hứa giúp mày vượt qua khó khăn hồi nào đâu? Tự mày nghĩ ra cái công dụng đấy cho tao mà.
– Nhưng nhiều khi tao thấy có mày tao cũng có thêm sức mạnh đấy chứ?
– À, đại khái tao là viên thuốc hạ sốt, mày bệnh quá thì tao có thể giúp mày hạ nhiệt một lúc, nhưng tao KHÔNG PHẢI LÀ THUỐC CHỮA BỆNH. Còn mày thì cho rằng tao là thứ thuốc vạn năng bệnh nào cũng chữa. Mệt tao quá.
Nguyên tắc 4: Chuyện nhỏ là chuyện lớn
Bạn cho rằng điều gì là quan trọng ở người đàn ông đang tán tỉnh bạn?
Đa phần các bạn gái sẽ trả lời: Anh ấy tốt với tôi, anh ấy yêu tôi, thế là đủ.
Câu trả lời phổ biến (và tâm đắc) này của các bạn, rất tiếc hoàn toàn chả có tí giá trị nào trong việc tìm kiếm một người đàn ông tốt để làm bạn đời. Khi đàn ông đi tán gái, tất nhiên anh ta phải tốt, tất nhiên anh ấy nói anh ấy yêu bạn. Đem tiêu chuẩn “tốt với tôi, yêu tôi” ra để chọn lựa, chẳng khác nào con cá trong đối thoại sau:
– Cá, thế nào là một thợ câu giỏi?
– À, theo tớ một thợ câu giỏi phải có cần câu, có mồi câu.
Đấy, có buồn cười không? Đã đi câu, ai chẳng có cần, ai chẳng có mồi (loại thợ câu đi người không đến hồ, xòe tay ra cho cá tự nhảy vào là siêu nhân, không tính), cần và mồi chẳng là gì để chứng tỏ một tay thợ câu tốt, tương tự “tốt với tôi, yêu tôi” chẳng nói lên được gì về người đàn ông đang muốn có bạn.
Thế cái gì mới là “chuyện lớn” quan trọng để bạn xác định được một ông chồng tốt?
Đấy chính là những chuyện nhỏ. Những hành động cử chỉ lặt vặt trong đời sống hàng ngày.
Những chuyện lớn ai cũng chú ý, nên ai cũng cố gắng làm tốt, hoặc giả vờ làm tốt. Những chuyện nhỏ ít được để ý đến mới hiển thị tốt nhất một con người, đặc biệt là khi người ta lơ đãng, hoặc người ta cho rằng không có ai để ý đến mình. Anh ta ngáp có che miệng không, ăn xong có ngậm tăm đi ngoài đường không, gặp tai nạn trên đường có xúm vào xem không, khi tức giận có chửi bậy không, về nhà có vứt quần áo bừa bãi không, bóng đèn cháy có gọi thợ không, vay tiền bạn bè có trả đúng hạn không, ngồi một chỗ có rung đùi như bị động kinh không? Đấy, bạn phải tìm hiểu người đàn ông của đời mình thôgn qua những thứ “lặt vặt” đó.
Có bạn hỏi: Chuyện nhỏ vớ vẩn ấy thì liên quan gì đến tình yêu vĩ đại? Chỉ là những thói quen, sửa là được, quan trọng là yêu, tình yêu đủ lớn thì sẽ vượt qua hết… la la la…
Trả lời: Hành vi bắt nguồn từ thói quen, thói quen bắt nguồn từ tính cách, văn hóa. Mà TÍNH CÁCH, VĂN HÓA chứ không phải TÌNH YÊU, mới là sự đảm bảo cho hạnh phúc.
Ở cùng với một anh chàng tốt tính, hòa hợp, bạn sẽ từ không yêu chuyển thành yêu, từ yêu ít thành yêu nhiều. Ở với một anh chàng chẳng ra gì, tình yêu sẽ chết nhanh thôi.
Còn dùng tình yêu để thay đổi tính cách? Chuyện hài nhất thế kỷ, giờ nào rồi mà còn nói đùa thế?
Nguyên tắc 5: Đừng nghe đàn ông nói, hãy nhìn đàn ông làm
Khoảng 90% những lời lẽ của đàn ông về tình yêu với bạn gái của mình là không thể tin được. Đặc biệt là các thanh niên chim chíp tán gái thì thôi rồi, toàn mang nhạc thị trường, nhạc sến, trà sữa tâm hồn, danh ngôn, trích dẫn truyện tình ba xu, phim Hàn Quốc… ra ba hoa, thật là đến bò nghe cũng phải phì cười (thế mà các cô gái lại rất thích, lạ ghê)
10% lời lẽ còn lại thì có thể tin (chẳng hạn như “em ơi anh muốn x em”) nhưng lại không có giá trị lâu dài. Đây là điều phụ nữ dễ bị nhầm lẫn nhất, vì 10% này ngay cả những người đàn ông TỬ TẾ nhất cũng thường nói.
Chẳng hạn: Anh yêu em mãi mãi. Anh sẽ đi bên em suốt cuộc đời. Anh sẽ….
Họ có nói dối không? Không. Không nói dối, vì khi nói ra câu đấy họ thực sự nghĩ như thế. Chỉ có điều là còn một phần khác họ không nói ra, đôi khi vì họ cũng không hiểu được chính mình.
Anh sẽ yêu em mãi mãi … nếu lúc nào em cũng ngoan ngoãn, thơm tho, nhàn rỗi ngồi nép vào bên anh thế này này, như thế, tất nhiên là yêu. Nhưng sau này em đầy mùi nước mắm với nước đái trẻ con, ăn mặc nhếch nhác, bụng béo đầy mỡ… xin lỗi, anh không có ý lừa em, nhưng không hiểu sao anh… sorry.. tình cảm của chúng ta không như cũ nữa.
Cô gái khóc nức nở: Tôi đã hy sinh vì anh, tôi già, béo, xấu, bẩn cũng vì anh… thế mà anh lại…
Chồng (nghĩ thầm): Công nhận là em tốt, công nhận là em đúng. Nhưng mà điều kiện của tình yêu là phải thơm, sạch, mới, lạ. Bảo anh biết ơn em thì được, nhưng bảo anh run rẩy yêu em như ngày nào thì khó quá, cái này sao cố được.
Đàn ông khi yêu hay thích khẳng định mình, nói ra nhiều câu có chủ ngữ là ngôi thứ nhất: Anh thế này, anh thế khác… Các cô gái nghe say sưa, mắt chớp chớp miệng đớp đớp, tâm đắc ghê lắm. Mình yêu anh ấy quá, anh ấy bảo là… anh ấy hứa là…anh ấy là người…. Đến khi lấy về rồi, thỉnh thoảng lại nghẹn ngào, ôi mình bị lừa, ngày xưa nó nói dzậy mà bây giờ không phải dzậy.
Vậy kết luận ở đây là gì?
Nghe đàn ông tán cho vui thôi. Chủ yếu là phải nhìn xem anh ta làm được cái gì. Anh bảo anh lo được cuộc sống cho tôi, vậy phải xem anh có tháo vát, kiếm tiền được không. Anh bảo anh có trách nhiệm với tôi, vậy phải xem anh đối xử với bạn bè, người thân của mình thế nào. Anh bảo anh là người tốt, vậy phải xem anh có ghét chó và trẻ con hay không, vay tiền bạn có trả không…
Bạn nào yêu không mở to mắt ra mà nhìn, chỉ chết vì mấy câu văn hoa ba xu, đến lúc khổ lại đổ tại duyên số…xin mời xem lại nguyên tắc số 1.
Nguyên tắc 6: Đức tính quan trọng nhất của chồng?
Tôi không nói là “đức tính quan trọng nhất của đàn ông”, bởi vì mỗi người đàn bà cần đến đàn ông theo một nhu cầu riêng của mình. Có người mê đẹp trai, có người thích khỏe mạnh, có chị thích galant, có bà thích phong độ…tóm lại cái “nhất” đấy thiên biến vạn hóa, không sao tổng kết hết được.
Nhưng với vai trò làm chồng thì lại khác. Làm chồng tốt cũng cần nhiều tính chất khác nhau, lãng mạn, mạnh mẽ, giỏi giang, phong độ, tháo vát, thông cảm, bao dung, chăm chỉ… gi gỉ gì gi, cái gì cũng cần, cái gì cũng tốt. Nhưng tất nhiên là thật khó mà tìm được người hoàn hảo như vậy. Mà nếu có kiếm được, thì chắc bạn cũng chả đủ hoàn hảo để mà lấy được người ta. Thế thì, nếu như phải rút gọn, phải lựa chọn và quyết định trong những đức tính ấy, trong số những người bạn “có thể” lấy được, thì bạn sẽ lấy ai, lấy người như thế nào?
Hỏi đến đây, cả lớp đồng thanh: Lấy người yêu mình và mình cũng yêu, tóm lại lấy nhau vì tình ạ!!!
Cô giáo: Khổ quá, thế lúc chọn người yêu vậy, các em chọn ai, tìm người như thế nào?
Cả lớp: Yêu thì sao chọn được ạ, duyên số rồi, yêu mà biết tại sao yêu thì đã không phải là yêu ạ !!!
Cô giáo: %^&($$@
Đùa vậy thôi, topic này mong được giúp đỡ những người nghĩ rằng lý trí cũng cần thiết trong tình cảm. Còn với các tín đồ của yêu mê muội, cưới mù quáng thì đến cô giáo cũng bó tay, nói gì đến tôi
Trở lại với câu chuyện đức tính quan trọng nhất của chồng, có lẽ cũng cần chú thích thêm để các bạn đỡ thắc mắc, ấy là quan trọng nhất không có nghĩa là duy nhất cần thiết, lại càng không có nghĩa đó là yếu tố đầu tiên cần được đưa ra xem xét (cái đầu tiên, theo tôi nghĩ, là tìm hiểu xem đối tượng có bị Gay, hoặc bất thường về sinh lý hay không). Quan trọng nhất có nghĩa là, sau khi chúng ta đã có được hai ứng cử viên trước mặt, cả hai đều nam tính, nội tiết ổn định, biết đọc biết viết, chỉ số IQ trên 60… nhưng một anh thì biết đánh đàn ca hát múa rối nước còn một anh thì có cái “quan trọng” ấy, vậy nên chọn anh nào?
Cái đức tính đó là khả năng tiếp thu, học hỏi, nhận thức những sai lầm, điểm yếu của mình và cố gắng sửa chữa chúng. Nói cách khác, đó là khả năng tự hoàn thiện bản thân.
Nếu lấy một người chồng biết nhận ra khuyết điểm, dám nhận sai, sai dám sửa (không đảm bảo thành công 100%) thì các bạn có thể yên tâm là cuộc sống càng ngày càng tốt đẹp. Giống như bạn cưới một chiếc Kia Morning về nhà, mấy năm sau nó tự lên đời thành một chiếc Camry, rồi ít lâu sau lại trở thành một con Mẹc hoành tráng… thế có sướng không? Ngược lại, nếu lúc đầu lấy về một con Mẹc trông hoành tráng, rồi dần dần nó xuống cấp thành cái xe công nông thì thật tai họa.
Vậy khi chọn lựa, ngoài việc nhìn vào những gì đối tượng đang có, hãy để ý đến những gì đối tượng THAY ĐỔI trong quá trình quen biết, yêu đương, để ý đến cách anh ta tốt lên hay xấu đi xem anh ta có được khả năng tự hoàn thiện bản thân hay không. Nếu có, thì đấy chính là đức tính quan trọng nhất bạn cần ở chồng bạn.
Nguồn: WTT và FB Hang Nguyen

Chuyện gái lấy chồng

Posted on


Chẳng biết là từ đâu, từ bao giờ, cánh đàn bà vẫn ngậm ngùi than với nhau rằng, lấy chồng như đánh bạc. May thì được thằng tử tế, không may thì khổ cả đời.

Tôi có cô em họ cũng vào loại xinh xắn. Hơn ba mươi tuổi rồi nhưng vẫn chưa chồng cũng chỉ tại không dám liều. Sợ lấy chồng như nuôi con đề, nuôi con này lại về con khác.

Những năm cuối 80, lúc ấy còn đang học cấp ba, trên TV chiếu một bộ phim gì đó của Ấn độ nội dung tôi cũng chẳng nhớ rõ. Đại khái là có một anh yêu một chị, tình duyên trắc trở vì mối thù truyền kiếp của hai họ, rồi họ nhẩy xuống sông Hằng để được bên nhau mãi mãi. Tôi không thích phim Ấn độ lắm, cái tôi không thích nhất là diễn viên đang đánh nhau, lúc gay cấn nhất thì dừng lại múa hát chán chê mới đánh nhau tiếp. Chính vì thế mặc dù rất đói khát phim ảnh, nhưng nếu bật TV lên mà thấy diễn viên có nốt ruồi giữa trán là tôi không xem.

Cô em họ tôi thì ngược lại, rất thích phim Ấn độ. Mà cô ấy xem phim cũng khác lạ, tình huống bi lụy trong phim khiến các bà các cô sụt sùi lấy khăn chấm nước mắt thì cô ráo hoảnh. Nhưng cảnh diễn viên nam chính đánh nhau bị thua thì cô ấy lại khóc rưng rức. Xem phim chỉ để ngắm diễn viên nam đẹp trai.

Một thời gian sau, cô giới thiệu cậu bạn trai với tôi. Trông cậu này có nét Ấn độ. Tóc để rợp gáy, mái bồng bềnh. Đôi mắt to tròn mầu nâu hơi ươn ướt dưới làn mi rậm rạp. Quần áo của cậu ta rất mốt: quần bò mốc có khóa kéo ở đầu gối, áo phông kẻ gắn con cá sấu trên miệng túi. Cô em nức nở: “Đẹp giai không anh? Bao nhiêu đứa thích anh ấy mà em chiến thắng”. Tiếp xúc với chàng trai này vài lần, tôi bảo: “Thằng người yêu mày đần đần thế nào ấy, được mỗi cái mã. Giống như con công đực có bộ lông sặc sỡ.”

Vài tháng sau thấy cô em mặt buồn so, hỏi thăm thì cô bảo: “Chia tay Con Công rồi, chỉ được mỗi cái mã. Người đâu mà nhạt như nước ốc ao bèo, chả biết làm cái gì. Đến cái lốp xe đạp của em bị non hơi cũng không biết bơm, chán kinh!”

Khi cô ấy khoảng hai mươi tuổi, đã vào đại học, lại mang đến giới thiệu tôi một anh chàng khác. Chàng này xét về mẫu mã thì thua Con Công, nhưng mặt mũi góc cạnh cũng không đến nỗi nào. Đặc biệt, chàng hoạt bát, nhanh nhẹn, rất galant với phụ nữ và nói chuyện có duyên làm nhiều lúc tôi phì cười. Tôi bảo: “Thằng này có vẻ được đấy nhỉ. Biết làm nhiều trò khỉ”. Cô em tôi hất cằm đầy vẻ hãnh diện, buông một câu cảm thán: “Chuyện! Người yêu em mà lị”.

Tình yêu với Con Khỉ kéo dài đâu vài năm thì chấm dứt. Gần chùa gọi bụt bằng anh, những thế mạnh trước đây của Con Khỉ hấp dẫn em tôi thì nay trở nên quen thuộc nhàm chán. Nhàm chán với người này nhưng vẫn mới lạ với khác. Em họ tôi buồn bã mất một thời gian, gặp tôi bảo: “Thà đau một lần còn hơn đau nhiều lần anh ạ. Con Khỉ bắt cá nhiều tay quá”. Tôi an ủi: “Thôi, không chịu được nhiệt thì bỏ, thiếu gì đàn ông”.

Ra trường một thời gian, cũng đến tuổi lấy chồng được rồi. Cô em tôi lại có một anh chàng khác, hiền lành ít nói. So với Con Công và Con Khỉ thì anh chàng này kém nổi bật hơn hẳn. Cô em bảo: “Đau tim với Con Khỉ lắm rồi, giờ yêu anh này cho yên bình”. Tôi bảo: “Nó như Con Lợn ấy nhỉ, suốt ngày chỉ ụt à ụt ịt”.

Con Lợn rất hiền, bảo gì làm nấy. Con Lợn là công chức nhà nước, cả ngày ở cơ quan chỉ đọc báo, uống nước trà và ngủ gật. Hết giờ làm việc đến trình diện ở nhà em tôi, tối đi về nhà ngủ với mẹ. Ngày nghỉ nếu không bị em tôi điệu đi đâu thì chỉ ở nhà ăn no rồi ngủ tít mít. Lương ba cọc ba đồng nên Con Lợn chi tiêu cũng rất tằn tiện. Hôm sinh nhật cô tôi, em tôi phải chi tiền mua quà để cậu tặng lấy lòng mẹ vợ tương lai. Nhiều lúc em tôi nổi cáu, Con Lợn khoanh tay cúi đầu chịu trận đầy cam phận. Đàn ông như Con Lợn là ngoan, nhưng thối chí, an phận với cuộc sống nhạt nhòa nên cũng không thành đôi với em họ tôi được.

Duyên tình em tôi lận đận, đến gần ba mươi thì kiếm được một Con Bò. Anh chàng này khỏe, chăm chỉ làm việc. Công to việc lớn gì ở nhà em tôi, từ gánh nước bổ củi đến ma cưới hỏi đều thấy Con Bò xắn tay làm nhiệt tình như con cháu trong nhà. Mà chẳng phải chỉ việc nhà, kiếm tiền ngoài xã hội cũng rất khá. Hơn ba mươi tuổi đầu đã có nhà lầu xe hơi. Hình thức cũng được, chẳng kém Con Công xưa kia là bao nhiêu. Tính tình vui vẻ, nói năng hoạt bát như Con Khỉ. Chẳng chơi bời bài bạc, ngoan ngoãn như Con Lợn. Rốt cục thì em tôi cũng đến số, cả họ nhà tôi mừng.

Ấy vậy mà cũng không thành mới tệ. Lần này em tôi câm như hến chẳng giải thích lý do chia tay. Thấy vậy tôi cũng không dám hỏi. Ba mươi rồi, gái già rồi, đổi tính đổi nết sợ lắm!

Cho đến mãi sau, một hôm em tôi phấn khích vì mới mua được cái váy đẹp, mang sang nhà tôi khoe, tôi mới lân la cà khịa: “Đấy, già quá rồi, kiếm được cái váy níu kéo tuổi xuân là khoe nhặng lên. Ngày xưa Con Bò hay thế mà lại bỏ. Đồ hâm!” Em tôi liếc nhìn xung quanh xem có ai không, rồi cúi đầu, nháy mắt thì thầm: “Khoản kia yếu lắm, hỏng rồi”.

Thì ra là thế, tôi bảo: “Mày phải kiếm một thằng vừa Công, vừa Khỉ, vừa Lợn, vừa Bò lại phải là Dê. Xin về vườn thú mà làm việc, may ra gặp”.

Em họ tôi cười lóe xóe, vừa đi về, vừa ngoái cổ lại bảo: “Số em nó khổ thế đấy anh ạ”.

Bài sưu tầm

Anh hùng như mẹ Việt Nam ta

Posted on


Phot_Phet: Chào mẹ Việt nam anh hùng.

Mẹ Việt nam anh hùng ( MVNAH): Chào anh, lâu lắm mẹ mới thấy người lạ hỏi thăm.

Phot_Phet: Ơ, con cứ tưởng chuyện thăm hỏi là thường xuyên chứ ạ. Anh hùng như mẹ cơ mà.

MVNAH: Không có đâu. Năm đôi ba bận thôi. Hỏi thăm kiểu nhân dịp ấy mà.

Phot_Phet: À, ra thế. Chắc mẹ buồn lắm?

MVNAH: Chả buồn. Đau buồn như mất chồng, mất con mà mẹ còn sống đến giờ này nữa là.

Phot_Phet: Năm nay mẹ bao tuổi rồi?

MVNAH: Sắp trăm rồi. Khổ đau quá nên sống dai. Các cụ bảo giời hành. Chứ đúng ra mẹ muốn chết lúc nhận giấy báo tử của đứa con cuối cùng.

Phot_Phet: Mẹ là anh hùng, là biểu tượng của dân tộc này, sao lại có thể thế được?

MVNAH: Họ cứ đưa mẹ lên thế, chứ đâu mong muốn hay yêu cầu gì. Có chăng là muốn nhanh lên…nóc tủ ở với chồng con. Chứ một thân một mình như này, tủi lắm.

Phot_Phet: Thì nhà nước, xã hội cũng đã ra sức chăm lo, an ủi mẹ.

MVNAH: Chẳng vơi đi đâu. Đôi khi lại đầy thêm đấy.

Phot_Phet: Người ta đang dựng tượng đài mẹ, nguy nga và hoành tráng lắm. Mẹ biết chứ?

MVNAH: Mới nghe chị chủ tịch hội phụ nữ nói hôm qua. Nào đã thấy hình dạng ra sao.

Phot_Phet: Đúc bằng xi măng và đá khối, rộng tới 15 ha, cao tới 18m, ghi tên tất cả gần 50.000 mẹ anh hùng, tiêu tốn 410 tỉ bạc.

MVNAH: Mẹ chả hình dung ra thế nào là khối, ha, mét, tỉ nên không biết nó to đến đâu. Gần trăm tuổi mẹ vẫn không biết chữ.

Phot_Phet: Thật thế ạ?

MVNAH: Thật, chả riêng gì mẹ đâu. Mà mẹ nghĩ cả gần năm mươi nghìn bà mẹ kia cũng thế. Cả đời chỉ lo kiếm ăn, chạy giặc, rồi lại chồng con, chữ nghĩa nó xa xôi lắm.

Phot_Phet: Nhưng mẹ phải mừng và tự hào khi được đúc tượng, vinh danh chứ ạ?

MVNAH: Tuổi của mẹ, phúc đức nhất là được về với đất cùng chồng con. Mẹ chỉ mừng khi nước ta bớt đi những tượng đài tạc hình hài các mẹ đau khổ, các con mẹ tay cầm súng đao hào hùng, các cháu mẹ lang thang đói rách. Mẹ cũng mong muốn, nếu được thì nhà nước làm nhiều tượng đài cho tình yêu, sự ấm no và hoa trái.

Phot_Phet: Nhưng nhà nước cần giáo dục lịch sử và truyền thống cách mạng, mẹ ạ.

MVNAH: Lịch sử nó không nằm ở tượng đài, nó lắng hồn trong đất, trong trầm tích thời gian, con ạ.

Phot_Phet: Ôi, mẹ không biết chữ mà nói như thánh hiền.

MVNAH: Sư bố anh.

Phot_Phet: Mẹ ăn cam không con bóc?

MVNAH: Cam là thứ gì mà ăn được hả con. Tiện tay giã cho mẹ cối giầu không, ở đầu gường kia kìa.

Phot_Phet: Mẹ không còn răng mà vẫn nhai giầu được cơ ạ?

MVNAH: Không, mẹ nuốt đắng cay đấy chứ. Quen rồi, tự thủa chưa là con gái.

Phot_Phet: Giã giầu cho mẹ con cũng thấy cay mắt.

MVNAH: Anh để xa ra. Người ta đến thăm mẹ còn bôi cao lên mắt đấy.

Phot_Phet: Để làm gì ạ?

MVNAH: Để họ khóc.

Phot_Phet: Ôi mẹ, con khóc thật mất rồi.

MVNAH: Khẹc khẹc khẹc, sư bố anh.

Phot_Phet: Thôi, chào mẹ con đi.

MVNAH: Nghe y nhời thằng út khi mẹ tiễn đi chiến trường. Ối con ôi, hậc hậc hậc…

Bài sưu tầm

Chim nướng và Sáng kiến Thăng La

Posted on


Có vẻ như những cơn mưa cuối cùng của mùa mưa đã đi qua, trả lại cho Sài Gòn những ngày nắng. Nắng rọi qua vòm cây xanh trên các công trường, danh từ ở đây người ta chỉ các quảng trường, nghiêng qua các quán cà phê vỉa hè, chạy theo các con đường và rồi tràn ngập các bãi gửi xe.

Thay cho việc bôi kem và lăn lộn phơi mình dưới nắng trên các bãi biển vắng, chúng ta lại đắm mình trong các căn phòng máy lạnh, phó thác việc phơi nắng cho những chiếc xe hai bánh trung thành.

Để rồi nếu bạn sơ ý khi lấy xe, hoặc bãi gửi xe không có khăn ướt, thì chỉ vài phút sau khi leo lên cái xe vừa phơi nắng mấy tiếng ấy để chạy đi ăn trưa, cái xe máy thân yêu của bạn cũng sẽ nhân tiện làm luôn món chim nướng, hoặc món bướm rang. Đôi khi nó làm luôn cả hai món.

Thế là mùa khô đang đến.

Còn ở ngoài kia sẽ là mùa thu. Hà Nội mùa chim làm tổ. Như tên một bộ phim mà chúng ta xem từ hồi bé. Bộ phim ấy có bài hát Hoa Sữa say đắm lòng người. Còn nhạc sỹ sáng tác bài hát ấy khi Sài gòn đang vào mùa khô và chưa bao giờ nghe mùi hoa sữa.

Chim làm tổ rồi chim đi ăn. Đó là những con chim Kiwi mỏ dài hoặc ngắn tùy cơ địa. Chúng ăn ban đêm. Có khi ăn cả ban ngày. Có khi ăn vào buổi trưa. Nhiều khi ăn mà không cần tổ của mình lắm. Cho chim Kiwi ăn, với nhiều người đã trở thành cái nháy mắt. Giống như tôi có anh bạn, thường nháy mắt bảo tổ của mình: “Hay là làm một điếu nhé”.

Chim sẽ tiếp tục bị nướng và chim cũng sẽ tiếp tục đòi ăn. Thực ra là hai việc này liên quan ít đến nhau. Liên quan nhiều lại là chuyện khác.

Cực nhiều chim đi xe máy, đi xe hơi, đi xe bus.

Hay còn gọi là chim tham gia giao thông. Bướm cũng thế.

Anh Thăng La, một chú khướu (hay họa mi triều đình?) vốn đi lên từ đàn chim phong trào, nay làm nhạc trưởng cầm đũa múa một mình, anh múa: Điều chỉnh giờ học, giờ làm việc.

Anh múa đúng nhạc mà sai tiết tấu. Người nhà nước trung bình một tháng chỉ làm fulltime và hết công suất khoảng 3 đến 4 ngày anh ơi. Còn lại, mỗi ngày họ chỉ làm tối đa là 2 tiếng. Lẽ ra anh phải điều chỉnh giờ nhà nước: 9 giờ sáng làm việc, 3 rưỡi chiều kết thúc, nghỉ trưa 30 phút, không cho phép ngủ trưa. Hiệu suất lao động sẽ tăng lên trong khối nhà nước, vốn là khối ăn tàn phá hại đất nước này hơn 10 năm nay. Còn giao thông sẽ bớt nhức nhối đi rất nhiều. Tệ ăn nhậu buổi trưa, vốn được chim nhà nước ở Hà Nội ưa thích, sẽ không còn cơ hội để mà tồn tại.

Thế rồi ngoài đó sẽ đến mùa đông.
Còn ở đây sẽ là cực điểm của mùa khô nắng cháy.

Bài sưu tầm

Gỡ mối bòng bong giao thông đô thị

Posted on Updated on


Tình trạng giao thông đô thị (đặc biệt tại HN và TPHCM) có lẽ đã đến mức khó có thể chịu đựng thêm được nữa, báo chí đã tốn biết bao giấy mực. Sau nhiều năm và nhiều giải pháp của các cơ quan chức năng được ban hành nhưng bất khả thi, thì gần đây lò lửa dư luận về giao thông đô thị (GTĐT) lại bùng cháy bởi được châm từ ông BT Bộ GTVT La Thăng. Dường như, lần này sức nóng rát của nó đã khiến không ai ngồi yên được.
A. Nhận thức:
1. Cư dân đô thị phải sống chung với mặt trái của GTĐT:
Nếu chúng ta đang và còn sống ở Việt Nam, thì chúng ta phải bị tác động bởi con đường đi lên “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” mà ý chí của Đảng đã quyết, điều này không biết có thể thay đổi trong tương lai hay không, nếu có, chỉ có thể được đưa ra bởi một đảng cạnh tranh nào khác thôi. Theo con đường đó là con đường đô thị hóa với sự ra đi của ruộng đồng, rừng cây và những những xóm làng, một đồng hành quan trọng (hay thuộc tính trước tiên) của đô thị hóa chính là giao thông đô thị. GTĐT, từ cổ chí kim, từ tây sang đông, từ nước giàu nhất đến nước nghèo nhất luôn là bài toán không có lời giải hoàn hảo và không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu, tâm lý, nhận thức của tất cả mọi người. Nếu thích sống ở đô thị, mỗi người, mỗi tầng lớp người buộc phải chấp nhận những mặt trái của GTĐT.
2. Đa dạng, đan xen các phương tiện giao thông tại đô thị là câu chuyện vĩnh hằng:
Chúng ta chẳng thể tìm được trong quá khứ, cũng chẳng thể tin được trong tương lai sẽ có một phương tiện giao thông nào đó có thể đáp ứng hay phù hợp nhu cầu của cư dân đô thị nhất là đặt nó trong bối cảnh xã hội phát triển, cũng giống như mỗi chúng ta chẳng ai có thể ăn một món cả đời, vì thế chúng ta phải lạc quan để hiểu rằng, các loại phương tiện giao thông đan xen nhau tại đô thị là câu chuyện vĩnh hằng.
3. Quản lý GTĐT là việc tự nhiên và quan trọng hàng đầu:
Tôi cũng không rõ cơ quan quản lý giao thông đô thị đẻ ra trước hay con đường đô thị đẻ ra trước, nhưng tôi nghĩ việc quản lý giao thông đô thị một cách chặt chẽ nó tự nhiên, chả phải bàn cãi gì, giống như câu chuyện chúng ta phải đi bằng đôi chân của mình vậy. Việc ban hành các qui định, thực thi các qui định GTĐT, nghiên cứu, bố trí, tổ chức mạng lưới giao thông là nhiệm vụ sống còn của cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, cư dân đô thị buộc phải chấp hành các qui định về GTĐT cũng tự nhiên như chuyện phải ăn, phải uống hàng ngày, chả có gì nên phàn nàn hay bức xúc.
B. Nguyên nhân và giải pháp:
1. Chúng ta chưa tìm cách trao cho nhau sự đồng thuận nhận thức về GTĐT:
Chúng ta chứng kiến rất rõ thực trạng giữa cư dân đô thị, nhà khoa học và các cấp quản lý, từ chính quyền TW đến địa phương đã và đang không đồng thuận nhận thức về GTĐT, có tình trạng ông nói gà, bà nói vịt (như hiện tượng người dân nói tại cắm cột phân làn giữa đường gây nên TNGT, còn cơ quan có trách nhiệm thì nói do ý thức giao thông kém).
Chúng ta cần phải cải thiện tình hình này, không có cách nào khả dĩ hơn là truyền thông và đối thoại, trong điều kiện cả 2 bên (người dân và cơ quan quản lý) đều có thiện tâm và cái đầu sáng. Sao không áp dụng trưng cầu dân ý?
2. Phát triển đô thị mâu thuẫn nặng nề với phát triển GTĐT:
Chúng ta chứng kiến rất nhiều tiền của đã đổ ra để làm đường đô thị nhưng ngay sau đó lại để người dân tự phát xây dựng nhà ở riêng lẻ 2 bên đường, kèm theo đó là nền kinh tế vỉa hè với việc lấy vẻ hè làm nơi sinh hai của biết bao người. Cho dù Hà Nội đã ôm trọn cả xứ Đoài, nhưng nếu cứ phát triển kiểu nhà phố mặt tiền riêng lẻ như hiện nay thì sẽ không biết bao nhiêu đất mới đủ và mọi con đường lẽ ra để lưu thông thì lại biến thành một con đường bán, mua nhộn nhịp thâu đêm, suốt ngày.
Đường phố và hè phố vốn được xem như một bộ comple, hay nói ngoa ngoắt hơn nó giống như đi đại tiện tất phải tiểu tiện, thế nhưng ở ta, điều kỳ lạ là “Thành phố vì hòa bình không vỉa hè” là cái tên nhiều bạn đọc mới nói về thủ đô HN. Thật ra không chỉ có ở HN mà đâu đâu cũng thế, tất cả vỉa hè đều được biến thành nơi để hàng hóa, xe cộ, hàng quán. Đến lúc chúng ta phải nói câu chuyện đó là sự ăn cắp, một số người đã ăn cắp vỉa hè lẽ ra của chung để mưu lợi cho riêng mình, rất tiếc hành vi đó dường như được chính quyền bảo hộ. Nếu cứ để như vậy, xã hội chúng ta có vẻ như ngu muội, u mê đến mức cổ súy cho thói ăn cắp ngang nhiên giữa ban ngày. Tôi thiết nghĩ, chính quyền cần có giải pháp quyết liệt, không khoan nhượng để giải tỏa triệt để vỉa hè, trả lại cho người đi bộ.
Bên cạnh đó, trái đất sẽ không nở ra để cho VN đủ diện tích làm đường để đỗ xe ô tô, ngay cả khi chúng ta rất nhiều tiền, thế mà trong khi chúng ta thiếu cả đất, nghèo cả tiền mà để lòng đường đỗ xe ô tô thì quả thật, đến “Bụt cũng phải mỉa mai”. Tôi thiết nghĩ, không phải chúng ta không có đất để làm điểm giao thông tĩnh, chỉ có những cái đầu quản lý không có chỗ chứa những tư duy cụ thể và mạch lạc, ngay cái phường tôi đang sống nếu tận dụng triệt để có thể làm được hàng chục điểm đỗ xe ô tô.
3. Người tham gia giao thông vô tội vạ:
Sẽ vẫn là thiếu chỗ để đi nếu có con đường rộng 1000m được đặt vào lòng Hà Nội với lối tham gia giao thông vô tội vạ như hiện nay. Mọi người chạy xe trên đường lúc tan tầm như đàn ong vỡ tổ, không cần theo hàng lối nào, không cần biết đó là đường hay hè, không cần biết bên cạnh mình cũng là đồng loại, không cần biết qui định pháp luật là gì và cũng cóc sợ mấy anh CSGT. Nếu cứ để tình trạng này tiếp diễn, sự ùn tắc giao thông là đương nhiên và mãn tính, nhưng bên cạnh đó tôi nghĩ nó còn là “nỗi nhục quốc thể”, không ngăn chặn được tình trạng này, nhìn vào đó, chúng ta dường như thấy dân tộc VN là một dân tộc tự phát, mà sự tự phát nó chỉ xuất hiện ở hình thái xã hội mà khi đó con người vừa thoái khỏi kiểu đi bằng tứ chi.
Chúng ta phải phân làn kiên quyết, phân làn tại tất cả những con đường có thể phân làn, không nên bàn cãi việc này nữa. Để việc phân làn hiệu quả, chúng ta hãy nghĩ đến hình ảnh anh thanh niên đầu trọc dùng điếu cày điều khiển giao thông tại HN, hình ảnh đó nói lên hiệu quả của áp chế, ban đầu hãy bố trí CSGT túc trực phạt ngay ai sai làn, sau đó duy trì lực lượng cơ động để phạt nghiêm khắc những ai vi phạm làn xe. Có thể lực lượng CSGT không thể phạt hết tất cả những người sai làn, nhưng hoàn toàn có thể bắt phạt ngẫu nhiên, ai cũng sẽ hiểu rằng, biết đâu ngày mai sẽ là mình. Chỉ có điều rất lo, đó là nạn CSGT ăn mãi lộ.
4. Thủ phạm ùn tắc: Người điều khiển xe máy, ô tô.
Rất nhiều ý kiến nói xe máy, ô tô là nguyên nhân gây ùn tắc, nói thế thật là lạ, chính xác là những con người điều khiển nó gây nên ùn tắc, chính xác hơn nữa là những người tham gia giao vô tổ chức gây ùn tắc. Hiện nay, như Hà Nội và TPHCM với tốc độ gia tăng dân số chóng mặt bởi nhập cư thì không thể có chính quyền nào đáp ứng tốt, đủ đường xá cho dân đi. Mấu chốt là giải pháp quản lý giao thông, điều hòa phù hợp, mấu chốt là sự chung tay, đồng lòng của người dân và chính quyền.
Nói về xe máy, tôi chắc rằng chỉ có duy nhất ở xứ ta mới nhiều vô biên như vậy. Dường như người Nhật đã quá thành công khi đem đến xứ An Nam ta một công nghệ sản xuất xe máy được sự ve vãn, đón chào nồng nhiệt của các cơ quan chính phủ. Đến bây giờ, người điều khiển xe máy đã trở thành thảm họa, trở thành một “nỗi nhục quốc thể và nỗi lo sợ của bất cứ ai ra đường”. Hãy tìm cách ngăn chặn sự gia tăng xe máy, nên chăng tại các đô thị, cơ quan quản lý nên công bố lộ trình cắt giảm xe máy đăng ký bằng cách cấp một số lượng nhất định phiếu mua quyền đăng ký theo năm, ví dụ tại HN năm 2012 là 20,000 phiếu, 2013 là 10,000, năm 2014 là 5,000 bên cạnh đó bắt buộc mua quyền lưu hành xe tại đô thị.
Thật thiếu sót nếu chúng ta không nghĩ vai trò của xe đạp trong GTĐT hiện đại, hiện nay toàn dân ta cứ “một bước lên xe”, câu chuyện này hệ lụy của nó không chỉ là giao thông mà nguy hại hơn còn là sức khỏe và bệnh tật, sẽ không ai phủ nhận bệnh béo phì gia tăng tại đô thị, kéo theo đó là bệnh tim, mạch, đái tháo đường, mỡ máu, xương, khớp gia tăng. Tôi nghĩ, hầu hết mọi người tại đô thị đều có thể đi xe đạp đi làm.
Về xe ô tô cá nhân, tôi nghĩ đó là bộ mặt đô thị, bộ mặt xã hội vì thế chính quyền đô nên điều chỉnh bằng biện pháp kinh tế như điều chỉnh lệ phí trước bạ, phí lưu thông, phí đỗ xe … giả sử nếu áp dụng phí lưu thông xe hàng năm bằng 100% giá mua xe, chắc sẽ giảm xe ô tô trông thấy.
5. Đừng quá tin vào xe buyt:
Còn lâu lắm hoặc chả bao giờ Việt Nam mới có đường to trong đô thị lớn, không hẳn vì chúng ta nghèo, nước chúng ta bé mà cốt yếu là chúng ta không thể làm được cái gì to, cái gì hoành tráng mà bình thường, chúng ta chỉ làm được những cái con con xinh xinh bởi cái đầu chúng ta chỉ nghĩ được thế. Hơn nữa, cũng còn lâu lắm chúng ta mới có một thế hệ lái, phụ xe buyt phục vụ văn minh, bởi lẽ chúng ta sinh ta từ một môi trường đâu có văn minh, cái sự văn minh nó được xây dựng bởi truyền thống gia đình và xã hội. Tôi nghĩ, hãy tin rằng xe buyt chỉ đáp ứng 15% nhu cầu đi lại là tốt lắm rồi, nó cũng chỉ là phương tiện của những người thu nhập thấp . Việc cần làm ngay là phân loại xe buyt theo tuyến đường, loại xe buyt 50 – 80 chỗ ngồi chỉ nên cho chạy các đường khá lớn như Bắc Thăng Long – Nội Bài hoặc Đại lộ Thăng Long, các xe bé hơn đi vào đường bé hơn. Đặc biệt, tại sao chúng ta không chú ý nghiên cứu phát triển lại loại hình xe lam chở 5-7 người, trước đây chúng ta đã cấm vì nó kêu to, nó xấu xí, nhưng điều này không khó khắc phục. Loại xe này tiện lợi vì nó len lỏi vào ngóc ngách của những con đường vốn bé nhỏ, xinh xinh.
6.Triển khai các giải pháp giao thông chiến lược:
Đương nhiên, chẳng ai phản biện tính cần thiết của việc phát triển các phương tiện chiến lược khác như tàu điện ngầm, tàu đường sắt trên cao, dãn dân, dãn cơ quan, bệnh viện, trường ĐH ra ngoài trung tâm đô thị. Đặc biệt hơn, tại sao chúng ta không phát triển loại “buyt đường thủy”? Hà Nội có những dòng kênh nhỏ chạy bao quanh thành phố, hiện tại nó là dòng sông của nước thải đen ngòm, hôi xì nhưng không phải chúng ta không thể biến nó thành dòng nước trong xanh, thơ mộng để vận chuyển con người và không chỉ vận chuyển, nó như một giải pháp du lịch nội đô hấp dẫn.

Minh Tân

Nghịch lý giáo dục

Posted on


Chẳng học gì, suốt ngày chỉ chơi thôi

“Đi học dễ quá, chẳng học gì suốt ngày chỉ chơi thôi”- đó là tuyên bố “xanh rờn” của Nhím, con gái anh Minh (hiện đang học tại trường tiểu học Garvy J Elementary School, Chicago, Mỹ).

Ở lớp Nhím, đầu năm học các cô giáo đều nhắn nhủ các phụ huynh rằng, nếu cuối năm các cháu tuyên bố thích đi học thì đó là thành công lớn nhất trong cả năm. Thầy cô ở đây luôn nhắc đi nhắc lại với phụ huynh rằng, đừng bao giờ ép con làm bài tập quá nhiều. Điều mà thầy cô ở trường mong muốn chỉ là các cháu có học và có làm bài. Không cần số lượng.

Buổi sáng, Nhím thức dậy lúc 7h30, bé tự chuẩn bị quần áo, vệ sinh cá nhân, ngồi vào bàn ăn sáng. Vợ chồng anh Minh chỉ làm công việc duy nhất là chuẩn bị đồ ăn trưa để Nhím mang đến trường. Trong ba lô đi học của Nhím cũng chỉ có thế, không có sách vở bởi những thứ này đã để ở lớp.

Một lớp học ở của trẻ ở nước ngoài (Ảnh minh hoạ: Kim Ngọc Minh)

Buổi học của Nhím bắt đầu từ 8h30 nhưng chỉ cách đó 10 phút bé mới từ nhà đi bộ đến trường. Được đi học là điều mà Nhím vô cùng thích thú. Lớp học của Nhím được bố trí rất lạ, ngồi trong lớp, học sinh tự do thảo luận vấn đề cô giáo giao. Lớp học như một vườn bách thú thu nhỏ bởi ngoài sách vở, tranh ảnh, đàn piano, còn có cả những vật nuôi nhỏ như thỏ, chuột lang, rắn, cá, kỳ nhông, rùa, ếch… và cả những gốc cây to.

Học về quả bí ngô thì các cháu được đi thăm trang trại cả một ngày. Học về chim và muông thú, các cháu cũng được trực tiếp đi đến vườn bách thú. Khi học về vẽ tranh, các cháu được tự vẽ những gì mình thích.

Chiều đến, khi tan học, Nhím được chơi thoải mái. Sau khi ăn tối xong, cả nhà đang ngồi xem ti vi thì Nhím mang một tờ bài tập đã được cô in sẵn cho rồi hỏi cả nhà xem hôm đó áo của mỗi người có bao nhiêu cái khuy. Người trả lời phải có chữ ký. Chỉ có thế, Nhím đã làm xong bài tập về nhà. Hằng ngày, Nhím chỉ mất khoảng 5 – 10 phút là xong bài tập. Thời gian còn lại của buổi tối, Nhím chơi đùa, tìm hiểu những thông tin phù hợp với lứa tuổi trên mạng.

Nhím cũng không hề chạy đua hết lớp luyện chữ đẹp đến lớp tính nhanh. Nếu cháu muốn, bố mẹ chỉ cho đi học thêm các môn nghệ thuật (nhạc, họa, kịch..) hoặc thể lực (bơi lội, bóng đá, bóng chày..)

“Ngồi trên ghế nhà trường chỉ học cái gì cần cho cuộc sống, cuộc sống tức thời và làm nền cho cuộc sống tự học sau này. Cái gì chưa cần thì tước bỏ, không học để tích kiến thức, vất vào kho trí nhớ. Trước khi giải bài toán phải biết bài toán ấy sẽ giúp được những việc gì. Có lẽ vì thế, trẻ con ở đây học nhàn mà khi lớn lại làm được việc”- anh Minh chia sẻ.

Gồng mình “săn” bằng cao học

“Học xong cái bằng thạc sĩ chắc em chết mất. Em cố học cái bằng này cho xong rồi không bao giờ học nữa”- đó là câu mở đầu khi Hà chia sẻ về việc học thạc sĩ Quản trị kinh doanh bên Mỹ của mình.

Tốt nghiệp đại học Thương Mại, Hà quyết tâm lấy bằng thạc sĩ ở Mỹ để mở mang đầu óc. Tuy nhiên, cú sốc lớn nhất của Hà sau 4 năm học đại học nhàn tênh ở Việt Nam chính là việc học hành cực kỳ căng thẳng ở Mỹ.

Hàng ngày, Hà phải dậy từ rất sớm, chuẩn bị sách vở cũng như máy ghi âm lên giảng đường. Ở ngoài hành lang có thể cười nói vô tư nhưng khi đã vào lớp là phải rất trật tự. “Không khí lớp ồn ào nhất là khi thầy đưa ra một vấn đề, học viên bắt đầu thảo luận, tranh luận, sau đó phản biện lại thầy giáo về nội dung đó thôi chứ không bao giờ có chuyện, học viên ngồi “buôn dưa lê, bán dưa chuột” ngoài chủ đề.
Việc những học viên cao học hàng ngày lên thư viện tìm kiếm tài liệu nghiên cứu phục vụ cho quá trình học tập là chuyện “thường ngày ở Mỹ (Ảnh minh hoạ: Getty)

Lớp Hà cũng như hầu hết các lớp thạc sĩ khác ở Mỹ, thầy giáo rất ít khi điểm danh, nhưng ai nấy đều đi học rất nghiêm túc. Bởi nếu không học, thi sẽ trượt là điều đương nhiên. Mỗi một kỳ học, Hà phải làm từ 3-5 cái tiểu luận và bài kiểm tra, mỗi cái tiểu luận, Hà làm đến cả tháng trời mới xong.

Sau khi học trên lớp xong, Hà chỉ tranh thủ ăn trưa qua quýt rồi lại lên thư viện ngồi học. Hà ngồi bóc băng ghi âm và nghe lại những gì thầy giảng trên lớp, sau đó cô bắt đầu tìm tài liệu nghiên cứu về những vần đề thầy nêu. Nếu có gì thắc mắc, Hà gửi email hỏi lại thầy và thầy có nhiệm vụ giải đáp ngay tức khắc.

Với Hà, để hoàn thành một bài tiểu luận là cả một quá trình cô tìm tòi tài liệu trong thư viện, trên mạng. Việc làm tiểu luận ở Mỹ rất nghiêm túc, bất cứ trường đại học nào của Mỹ cũng có phần mềm kiểm tra tiểu luận, vì thế không ai dám copy tiểu luận của ai bởi nếu bị phát hiện sẽ bị đưa ra hội đồng kỷ luật và nhận điểm 0 ngay lập tức. Chình vì thế, “có cho tiền” Hà và các bạn cùng lớp cũng không dám copy.

Điều mà Hà ngạc nhiên nhất khi học thạc sĩ ở đây là lớp Hà có không nhiều người bản xứ. Sau nhiều lần tìm hiểu, cô mới “ngã ngửa” ra rằng, thạc sĩ hay tiến sĩ ở đây rất khó xin việc. Bởi nếu cùng một công việc, một người tốt nghiệp đại học, thậm chí là học hết cấp 3 mà làm được họ chẳng tội gì tuyển tiến sĩ hay thạc sĩ.

Quan điểm về sử dụng nguồn nhân lực tại Mỹ cũng như những nước phát triển khác đã xác định rõ mục tiêu đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ là cung cấp đội ngũ các nhà khoa học có trình độ phục vụ cho công tác giảng dạy đại học và nghiên cứu, không nhằm mục đích thành công chức lãnh đạo.

Và nếu ở Việt Nam quan điểm như vậy được áp dụng thì phong trào cán bộ đua nhau đi học thạc sĩ, tiến sĩ (dù là “học giả để lấy bằng thật”) có lẽ sẽ giảm đi rất nhiều.

Mẫn Chi (ghi)

Tôi có phải là nhân dân không nhỉ?

Posted on Updated on


Bài của: Vũ Thị Phương Anh
Theo blog Anh Vũ
Lâu nay tôi cứ ngỡ tôi hiểu rõ nghĩa của từ nhân dân. Thì từ này ai mà chả hiểu, nhân là người mà dân tức không phải là quan.
Nay đọc được bài viết của TS Nguyễn Văn Quang trên báo QĐND mới giật mình vỡ lẽ ra rằng từ nhân dân tưởng là đơn giản mà hóa ra phức tạp ra phết. Ai không tin thì hỏi ông xã tôi xem (học tập bác Ba Phi ấy mà!).
Còn nếu không muốn hỏi ông xã tôi, thì cứ tìm đọc kỹ bài của TS Quang trên báo QĐND cũng được. Nhưng tôi phải báo trước là bài ấy sâu sắc lắm, khó đọc lắm đấy nhé.
Là một người làm nghề đi dạy học, lại luôn tự hào là công dân tốt, nên tôi đã bỏ công ra đọc đi đọc lại bài viết này xem chính mình có nhầm lẫn gì không. Hóa ra là có, các bạn ạ.
Nhầm lẫn lớn nhất của tôi là ở chỗ này: Vì lâu nay hiểu nghĩa của từ nhân dân một cách đơn giản nên tôi cứ đinh ninh mình là nhân dân, nói nôm na là người dân. Tức không phải là quan. Nói cách khác, tôi là người được (Đảng) lãnh đạo, không phải là giai cấp đi lãnh đạo người khác.
Nhưng sau khi nghiền ngẫm bài viết rất sâu sắc của TS Quang – một vị đại tá quân đội – thì tôi mới biết là vấn đề không đơn giản thế, mà phức tạp hơn rất nhiều. Nên mới có cái câu hỏi mà tôi đưa lên làm tựa của entry này, là như thế.
Phức tạp như thế nào? Này nhé, trước hết là câu này, trích từ bài viết (đoạn số 2):
Nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực Nhà nước và là người thực hiện cuối cùng các quyết sách chính trị do chính mình định ra.
Chiếu theo nghĩa của câu này thì rõ ràng tôi không phải là nhân dân. Vì tôi không phải là chủ thể của mọi quyền lực Nhà nước, cũng chưa bao giờ nghĩ rằng mình đã từng định ra bất kỳ quyết sách chính trị nào cả, mặc dù có lẽ cũng đang (phải) thực hiện nhiều quyết sách chính trị do người khác định ra.
Nhưng nếu không là dân, thì tôi là ai? Chẳng lẽ là … quan? Gì chứ quan hay là giới lãnh đạo thì tôi biết chắc chắn không phải là tôi. Thử đọc thêm một chút nữa để hiểu rõ hơn.
Đoạn 3 của bài viết là đoạn nêu rõ nhất định nghĩa nhân dân của tác giả bài viết. Có 3 câu viết liên tiếp cạnh nhau, khẳng định rất rõ ràng bản chất sâu sắc nhất của từ nhân dân. Xin xét từng câu.
Nhân dân không chỉ được hiểu một cách phổ thông, đơn thuần là khối người đông đảo làm nền tảng cho một nước trong một thời gian lịch sử nhất định.
Theo câu này, thì hình như theo nghĩa rộng, nghĩa phổ thông, có thể xem tôi là nhân dân vì tôi là một trong khối người đông đảo làm nền tảng cho nước VN trong giai đoạn lịch sử hiện nay. May quá, vậy là lâu nay tôi cũng hiểu đúng. Nhưng tất nhiên đây chỉ mới là một cách hiểu, cách thô thiển, tầm thường, phổ thông, đơn giản nhất.
Nhân dân còn với nghĩa là một tầng lớp, một giai cấp đại diện cho một quốc gia, dân tộc trong một Nhà nước nhất định.
Câu trên đây cho thấy một nghĩa khác, nghĩa không phổ thông, nghĩa đặc thù, sâu sắc của từ nhân dân (chắc cái nghĩa nhân dân này chỉ có ở mấy nước XHCN ưu việt mới có). Theo nghĩa này thì nhân dân chỉ là một tầng lớp, một giai cấp đại diện cho cả quốc gia VN, dân tộc VN trong Nhà nước VN hiện nay.
Nếu hiểu theo nghĩa này, thì hẳn tôi không thể là nhân dân, vì (chắc là) tôi không có tư cách gì để có thể đại diện cho cả quốc gia, cả dân tộc VN trong Nhà nước XHCN hiện nay.
Thực ra thì tác giả cũng không nói rõ tầng lớp nào, giai cấp nào mới là đại diện trong số các giai cấp hiện có ở VN như giai cấp công – nông , giai cấp tiểu tư sản, giai cấp vô sản, giai cấp lãnh đạo, nên biết đâu cái giai cấp mà tôi đang ở trong (hình như là giai cấp tiểu tư sản) cũng có thể là nhân dân thì sao nhỉ? Nhưng chỉ chọn một giai cấp, một tầng lớp để đại diện cho cả quốc gia, dân tộc VN hiện nay trong NN xã hội chủ nghĩa, thì tôi e rằng tiểu tư sản chắc là không xứng đáng. Chắc là giai cấp khác, không có giai cấp của tôi.
Nhân dân là chủ thể quyền lực của một chế độ xã hội nhất định. Nhân dân luôn mang tính cộng đồng dân tộc, song cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc.
Câu này nhắc lại ý “chủ thể quyền lực” mà tôi đã nêu hồi nãy, và nhấn mạnh nó thuộc về “một chế độ xã hội nhất định”. Trong xã hội VN XHCN hiện nay thì tôi – và rất nhiều người khác quanh tôi – không phải là chủ thể quyền lực. Thì đó, ngay cả việc biểu lộ tình cảm yêu nước cũng phải chờ định hướng của NN, chứ không có định hướng thì lớ ngớ là rơi vào bẫy của bọn thế lực thù địch ngay.
Không chỉ là chủ thế quyền lực. Theo câu này thì nhân dân vừa có tính cộng đồng dân tộc (cái này thì tôi có), nhưng lại cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc (cái này thì còn tùy cái giai cấp đó là giai cấp nào đã, xin xem lại phần trên).
Tóm lại, câu này có 3 ý (chủ thể quyền lực, tính dân tộc, tính giai cấp), có một ý tôi đạt (tính dân tộc), một ý không đạt (chủ thể quyền lực), còn ý thứ ba thì có lẽ không đạt. Như vậy là 50-50. Vẫn chưa ngã ngũ, phải đọc thêm nữa.
Ở đoạn 4, mọi việc dường như có rõ ràng, cụ thể hơn, ít lý luận trừu tượng như 3 câu ở đoạn 3 mới nêu. Chúng ta thử đọc ở dưới đây. Cũng có mấy ý, xin phân tích từng ý.
Rõ ràng, nhân dân là những người lao động, nông dân, công nhân, trí thức, binh sĩ, nhân sĩ, tiểu thương yêu nước đã bị thực dân, phong kiến bóc lột, áp bức tù đày, tước đoạt đi mọi quyền sống cơ bản của con người, quyền tự do phát triển của một dân tộc.
Cái phần rõ ràng này thực ra chẳng rõ ràng gì hết. Tôi tự xét thấy mình thuộc vế đầu tiên của câu này, tức những người lao động,… , trí thức (ừ thì cũng có đi học, có bằng cấp, làm giảng viên, nên tôi tạm nhận mình là trí thức) yêu nước. Nhưng tôi lại không may, chẳng bị thực dân, phong kiến bóc lột áp bức tù đày gì cả. Vậy tôi có thể được xem là nhân dân không nhỉ? Gay quá.
Nhân dân ở đây còn là “toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo”… nhưng dứt khoát không thể là những kẻ đã áp bức, bóc lột, bám gót thực dân hay quan lại phong kiến, phản động Việt gian và tước đi các quyền cơ bản đó của đồng bào, dân tộc.
Đến câu này thì hình như có chút ánh sáng le lói. Tôi chắc chắn phải là một phần của toàn dân, không phân biệt… tôn giáo (gia đình tôi gốc đạo Công giáo), và, ơn trên phù hộ, tôi không phải là kẻ đã áp bức, bóc lột, bám gót thực dân quan lại phong kiến hay phản động Việt gian gì hết. Vậy có lẽ tôi cũng là nhân dân? Đỡ quá, có thế chứ, lâu nay tôi vẫn tin mình là nhân dân mà.
Nhưng bài viết chưa hết, mà vẫn còn một đoạn nữa, hơi khó hiểu, và … hơi có giọng đe dọa, làm tôi cũng hơi run run, chẳng biết nếu mình tự nhận là nhân dân thì có đúng không, hay là tôi đang nhầm lẫn, hoặc thậm chí lợi dụng từ “nhân dân”. Đây này:
[N]hân dân Việt Nam […] có quyền đòi hỏi không một nước nào, một thế lực nào, một cá nhân nào được can thiệp vào quyền tự quyết lập hiến của nhân dân Việt Nam; càng không được cả gan nhận mình là “nhân dân” để phá hoại công cuộc xây dựng, kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.
Chao ơi, tôi đau đầu quá. Chẳng hiểu có phải tôi đang cả gan nhận mình là nhân dân để phá hoại công cuộc xây dựng, kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân VN không? Chả là vì lâu lâu tôi cũng hay có chút thắc mắc về tình hình biển đảo của VN ấy mà, mặc dù ngoan lắm, cứ toàn phải đợi Đảng và nhà nước định hướng rồi mới dám biểu lộ.
Có ai bảo giúp cho tôi biết xem tôi có phải là nhân dân không nhé? Cái này có lẽ phải nhờ đến TS Quang thôi.

Tính cách người Việt hiện đại màu gì?

Posted on Updated on


Làm cái nhỏ thì tốt, cái lớn thì vứt đi
– Thưa họa sĩ, theo ông, có màu nào đại diện được cho con người Việt Nam đương đại? Thể hiện cả mặt phải lẫn mặt trái trong tính cách người Việt?
– Tôi chọn màu vàng thổ. Vì nó là mầu trung độ. Người Việt Nam không có triết học, chỉ là trung tính, trung độ, làm gì cũng không đến nơi đến chốn. Tất nhiên không nhất thiết mỗi quốc gia phải sinh ra một triết gia. Ý tôi là điều này phù hợp với tính cách người Việt. Người Việt chỉ hợp những gì be bé, xinh xinh. Cứ đi sâu vào tiểu tiết thì rất ổn, rất tinh xảo, có thể nâng lên đến tầm nghệ thuật. Nhưng làm cái gì hoành tráng, tổng thể thì vứt đi. Ví dụ Đại Nam tiên cảnh, Chùa Bái Đính, tượng Mẹ Việt Nam anh hùng… tóm lại những kỷ lục Guiness VN rất xấu.
Cứ ngắm những đại công trình mới xây dựng mà xem, có cả tỉ vấn đề ở đó. Nào là sự ăn cắp ý tưởng thiết kế, nào là bê tông hóa, nào là rút ruột công trình, nào là sự cẩu thả, dốt nát…
– Vậy còn cái đẹp của màu vàng thổ?
– Với con mắt mỹ thuật của một họa sĩ, tôi nhìn thấy rất nhiều tính tích cực của màu vàng thổ và sự trung độ của người Việt. Vẻ đẹp mỹ thuật luôn ẩn mình trong những chiếc bát Lý, lư hương đời Lê, thạp đời Trần, con rồng triều Mạc, những mảng điêu khắc nhỏ, mái đình, đầu dư, kẻ hiên, viên gạch lát nền, con tò he, chó đá, chén đĩa Bát Tràng…
Cái đẹp trong chiếc bát Lý là sự thô mộc, âm trầm, gia công không đều, kiểu “sáng rửa cưa, trưa màu đục”, bàn xoay không chuẩn, men ngọc không đúng nghĩa nhưng lại ra một loạt biến tấu: ngọc nước dưa, ngọc nước rau muống luộc… tương phản với sự kỹ lưỡng, chỉn chu, khéo léo đến hoàn hảo của gốm Tống.
Chính cái sự nửa vời không đều khi vẽ hoa văn, khi chất củi lửa chỗ nhiều chỗ ít lại cho ra kết quả là tính nghệ thuật rất cao. Bởi vì nó gửi gắm rất nhiều tình cảm của con người lao động thủ công ở trong đó, mang tính đơn bản thực sự chứ không đẹp đều như những sản phẩm làm bằng máy hàng loạt.
Còn người Việt hiện đại thì rất khó để có thể nhận xét ra được đặc tính. Tôi chỉ nhìn thấy toàn sự dối trá, dốt nát, chậm tiến, bảo thủ, kiêu ngạo, học đòi… thích to (to nhưng xấu) và bệnh vô cảm.
Nếu xã hội chỉ chạy theo đồng tiền
– Ông có cho rằng thật ra thì văn hóa của người Việt không dở với cả chiều dầy lịch sử bồi đắp, nhưng chính là văn hóa của người Việt hiện đại không hay?

– Tôi luôn băn khoăn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi vì sao văn hóa của người Việt mình trước kia hay và đẹp như thế, cho đến thời kỳ chiến tranh cũng vẫn còn duy trì được, nhưng tính từ sau đổi mới đến nay thì hiện tại lại tệ thế này?
Đáng lẽ đổi mới kinh tế dẫn tới xã hội phát triển hơn, cuộc sống đủ đầy hơn thì phải nghĩ đến chuyện văn hóa chứ. Không lẽ nhiều nhà cao hơn, nhiều xe đẹp hơn mà mất văn hóa hay sao? Biết bao vụ án dã man không thể tưởng tượng nổi như Nguyễn Đức Nghĩa, Lê Văn Luyện, cho đến thầy cô giáo cũng xuống cấp về đạo đức như vụ Sầm Đức Xương… đã bung ra khiến cả xã hội kinh hoàng.
Chính vì cả xã hội tôn vinh vật chất, chạy theo giá trị đồng tiền, cho nên thành ra như thế. Quá nhiều hàng hóa, quá nhiều sự du nhập những thói quen sống, sinh hoạt từ khắp nơi trên thế giới mà giới trẻ chưa có chút vắc xin nào để chống trả.
Nếu như bây giờ thời gian có thể quay ngược về đêm trước đổi mới, chắc chắn là nhiều người hiểu cần phải xây dựng nền móng văn hóa vững chãi trước khi phát triển kinh tế, hoặc chí ít cũng đẩy cả hai cùng song hành trên một tuyến đường.
Hãy bớt đi những thói xấu
Từng trao đổi với nhiều người Nhật, tôi thấy kính phục họ khi không chỉ khóc thương thân nhân và tài sản mà nước Nhật mất đi trong thảm họa động đất sóng thần mà còn coi đó là điểm tụt xuống cần thiết để khởi động lại quá trình vươn tới, dựng xây và cố gắng hướng đến những chân trời mới, tốt đẹp hơn. Những gì mà nền mỹ thuật Việt, và nghệ thuật Việt nói chung đang khủng hoảng không phải bỗng dưng xảy đến. Kể cả cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mà tất cả các nước trên thế giới chúng ta đang hứng chịu cũng không vô tình đột ngột diễn ra. Tất cả đều là hệ quả của những hành vi mà xã hội đã tích lũy sau một quãng thời gian và nhiều diễn biến. Ông có chia sẻ điều này? Và, theo ông, người nghệ sĩ cần làm gì cho hiện tại và tương lai?
– Tôi nghĩ rằng có nhân thì có quả, điều đó là chính xác. Khi chúng ta đang nhìn thấy nơi này là ban ngày thì chỗ khác ắt phải là đêm. Hãy dẹp bớt những thói xấu: đánh tráo khái niệm, ảo tưởng, lừa mị, tự dối mình, bịt mắt dò đường. Người làm nghệ thuật bắt buộc phải vượt qua những “tử huyệt”, như mỹ thuật là tình trạng na ná, ăn cắp chất xám của nhau một cách tinh vi.
Tại sao lại không có cơ quan nào đứng ra xử lý việc ăn cắp sáng tạo? Các loại ăn cắp khác bị bắt, bị xử, tại sao mỹ thuật lại không? Toàn bộ các cửa hàng chép tranh đều ở mặt các phố lớn đấy chứ? Hà Nội thì Nguyễn Thái Học, Hàng Trống… TP.HCM thì Đồng Khởi, Nam Kỳ Khởi Nghĩa… Họ hiện diện sờ sờ ra như thế, ai cũng nhìn thấy, ai cũng biết là phạm luật, tại sao cả xã hội lại chấp nhận nhìn người khác ăn cắp và coi đấy là việc bình thường, cơ quan quản lý không bắt, còn người tiêu dùng sẵn sàng mua về treo.
Người làm nghệ thuật hơn người khác là có năng khiếu, nhưng đó chỉ là một chút thuận lợi cho chặng đường đầu tiên thôi. Còn lại, yếu tố quan trọng nhất phải là văn hóa. Tôi nghĩ, cái cần nghĩ đến và hành động nhiều nhất với mỗi người nghệ sĩ là phải bồi đắp văn hóa, có khi mất cả mấy chục năm nạp vào rồi lại mấy chục năm quên đi để chỉ thể hiện lại những nét văn hóa đã ngấm sâu vào trong mỗi người nghệ sĩ, trở thành bản chất của anh ta chứ không phải là biểu hiện bề ngoài như nhiều người vẫn nhìn thấy hiện nay.
Ở chỗ này, cần nhắc lại một chút về màu vàng thổ, tôi chọn nó còn vì sự tươi sáng và tính chất ở giữa, cốt lõi của nó. Không phải nhìn thấy xã hội loạn lên thì tâm thế của mình cũng bất an. Mà là, mỗi người nên nhìn nhận ra vấn đề, tổng thể cũng được, riêng rẽ cũng được, theo cách của từng người, và mỗi người mỗi ngày chỉ cần làm thêm một việc tốt dù nhỏ bằng con kiến thì cũng khiến xã hội tích cóp lâu ngày sẽ có những chỗ tốt đầy lên, phình to ra.
Hòa Bình phỏng vấn Họa sỹ Lê Thiết Cương

Lát cắt xa xưa

Posted on Updated on


Đọc “lát cắt buồn vui” của tác giả Kỳ Duyên (nhũ danh Kim Dung!) tự nhiên cảm giác mình tâm trạng cũng bị cắt dọc cắt ngang làm mấy chục lát rướm máu và rát buốt.

Nếu mọi sự việc gì đều có nguồn cơn của nó, thì, những sự việc mà tác giả Kỳ Dung phơi ra thành từng lát từng lát giữa chợ đời buồn vui cũng có nguồn cơn của nó.

Dù bị trặt cổ, tui cũng ráng ngoái nhìn lại vào trong xưa, xa xăm, cố giở lại cổ tích giữa sương mờ bãng lãng bình yên của mùa thu xứ Bắc, để tìm lại quá khứ bạo lực nông nổi của một thời.

Quá khứ nói rằng giữa buổi giao thời giữa phong kiến và sau phong kiến, một nhóm người đã chọn một hình thái kinh tế – chính trị – xã hội – văn hóa mà họ cho là đúng đắn; và họ đã bằng mọi cách phủ dụ được dân chúng tin vào họ nhiều hơn là tin vào các nhóm khác với các cách chọn lựa khác.

Một nhóm người đó là các đảng viên đcs quốc tế, chủ trương thế giới cộng sản đại đồng, không còn quốc gia (nếu ai theo đảng mà còn nặng về quốc gia thì bị cho là thuộc “chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”). Chủ trương của cs thế giới là đánh đổ tư sản. Tư sản theo họ là nguyên nhân của bất công xã hội. Hình thái kinh thế họ chọn là kinh tế tập trung, mọi người ai cũng làm việc như ai, tài sản tập trung về nhà kho, đảng xung phong giữ của cải, đảng sẽ ban phát định kỳ trở lại cho mọi người theo thứ tự sắp hàng (hay đặt cục gạch) ở trong hàng chữ nhất (không phải hàng ngũ). Chọn lựa xã hội của họ là công an trị, đảng lãnh đạo công an, phát lương cho công an. Chọn lựa văn hóa của họ là văn hóa cs, chuyên chính, vì họ cho rằng văn hóa, truyền thống từ hồi khai thiên lập địa tới giờ là văn hóa lạc hậu song hành với tư sản, phải đào tận gốc, trốc tận ngọn, bỏ, chả tiếc chi.

Xin chú thích rằng nói những điều vừa rồi không có ý gì khác, mà là nói cái sự đời đã xảy ra, dù nó bằng lá đa hay lá mít, tùy nghi độc giả cảm nhận, nhưng đừng cảm nhận theo kiểu “thèng ni phuản đoọng”, sẽ làm chuyện vào đây với nhau cùng sờ soạn hiện tình tù mù nhưng không sướng gì cả.

Quay trở lại những lát cắt, tất cả lát cắt đều có nguồn từ sự chọn lựa ban đầu như vậy cho nên nó theo khuôn khổ như nguồn gốc của nó. Người đang thời, tức là bây giờ, cảm thấy mọi sự trở nên kỳ cục, mọi việc trở nên bế tắc, mọi sự trở nên “tù mù”, mọi “phương án”, “giải pháp” như viên sỏi thả vào hư vô, nghe hoài không thấy tiếng vọng lại.

Vấn đề là tại sao người đời hiện nay lại cảm thấy, chứng kiến, và phàn nàn mọi sự việc như vậy, theo tiêu chuẩn nào?

Bên truyền thông báo chí trung thành của đcs quốc tế, chi nhánh (franchisee) tại Việt Nam, và chính quyền cs Việt Nam cùng những người yêu say đắm cs, thì tại quân chúng “chưa nhận thức tốt”, quần chúng phải hy sinh bản thân mình, gia đình mình, đất nước mình cho công cuộc tiến lên cs chủ nghĩa như đã chọn ban đầu, hy sinh nữa, hy sinh mãi.

Theo thực tế hàng trăm xã hội ngoài xã hội Việt Nam (thiên ngoại hữu thiên) thì những tù mù, những bất cập, những kỳ cục, những bế tắc, vân vân cùng loại đồng hạng là do quản lý dở, không luật lệ, hành chính tồi, tổ chức dại, phân công dựa vào bè phái, nhân thân, vv… Nói ngắn gọn là do đường lối sai lầm. Đó là cảm nhận của quần chúng.

Vậy thì bây giờ phải làm sao? Thật ra là ai làm mới là câu hỏi, vì ai cũng biết mọi sự trên xảy ra hết năm này đến năm khác, hết thập niên này đến thập niên khác, hết quốc hội này đến quốc hội khác, hết “đổi mới” này đến “đổi mới” khác, mà đất nước vẫn ì ạch đội sổ, vẫn nhận viện trợ, giúp đỡ, bố thí và vẫn phải “đảng, nhà nước, và nhân dân” … đời đời đội ơn này nọ hoài hoài. Nhục đến rớm máu, đến rát buốt là vậy.

Nhưng ai làm là làm gì? Cách mạng. Xin đừng hoảng sợ khi nói tới một cuộc cách mạng. Cách mạng chẳng qua là thay đổi để có một chọn lựa khác khi một chọn lựa trước kia không còn phù hợp nữa.

Mà chọn lựa nào mới được đây?

Con chim hồng hộc sinh ra để bay nhảy, kiếm mồi, nuôi con và cạnh tranh mồi, cạnh tranh nơi xây tổ, cạnh tranh bạn đời, môi trường mình sống, vv… Hãy để chim hồng hộc sống tự nhiên như nó sống, đừng áp đặt một tên gọi tư sản hay cộng sản vào nó. Hãy để cho nó tự nhiên cất tiếng kêu, cất tiếng hót hồng hộc của nó, đừng bắt nó phải kêu “ậm bò, ậm bò” như con bò, phải ăn cho no, ngủ cho khỏe rồi cày cho chủ như con bò, quần quật tháng năm, đến khi không cày được nữa thì bán mổ thịt.

Nói hình ảnh vậy để gợi ý một chọn lựa: tự nhiên. Nếu hình thái xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa là tư sản, dân tộc và truyền thống là tự nhiên như nó đang là điều tự nhiên mọi người mong đợi, thì so it be, chọn nó.

Chim hồng hộc là hình ảnh tượng trưng sớm nhất có thể của dân tộc Lạc Việt.

Sưu tầm trên hieuminh.org

6 giải pháp tăng lương

Posted on


Để triển khai thành công cuộc cải cách cơ bản chế độ tiền lương trong thời kỳ mới, xin kiến nghị một số giải pháp chủ yếu như sau:

1. Đặt vấn đề lương công chức trong tổng thể hệ thống chính trị – kinh tế, đảm bảo hài hoà giữa Nhà nước pháp quyền – Thị trường – các tổ chức xã hội…Bộ máy hành chính phải được sắp xếp lại, theo hướng gọn nhẹ, đa chức, đa ngành, đa lĩnh vực, đảm bảo chức năng quản lý vĩ mô bằng quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật…

2. Thiết kế khoa học chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu nhà nước gọn nhẹ, hiệu lực, hiệu quả và gần dân…Phải mô tả rõ nhiệm vụ từng chức danh trong bộ máy, từ người quản lý đến các chuyên viên; tạo cơ sở đánh giá năng lực, trình độ và tiền lương của mỗi công chức trong bộ máy. Gắn trả lương công chức với đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan Nhà nước.

3. Phát triển nhân lực từ Trung ương đến cơ sở…Hai khâu quan trọng của tuyển chọn, bố trí nhân lực quan trọng nhất là chất lượng đầu vào công vụ và bổ nhiệm vị trí công chức lãnh đạo – quản lý, cần tuân thủ các tiêu chuẩn, quy trình tuyển chọn công khai, có sự cạnh tranh giữa các ứng viên; tiền lương và các chính sách kèm theo cũng phải được công khai, minh bạch. Trả lương theo đúng mức độ cống hiến và vị trí lao động. Những chuyên gia có trình độ cao cần được trả lương xứng đáng, có thể cao hơn lương của người quản lý đơn vị.

4. Xác định lại “công chức hành chính” là ai, để có chính sách tiền lương thích hợp, phù hợp lao động đặc thù của họ. Cần khẳng định “công chức là những người làm việc trong khu vực quản lý hành chính Nhà nước, từ Trung ương tới cơ sở”, tức là không bao gồm những người làm trong khu vực sự nghiệp, khu vực sản xuất và các khu vực khác. Đây là việc lâu nay đã nói đến nhưng chưa được xử lý, nay đã đến lúc cần phải phân biệt dứt khoát.
Tại cuộc đối thoại với thanh niên tối 25/3/2010,
Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc (ảnh) cho rằng,
vấn đề thu nhập là mấu chốt trong quyết định dứt áo ra đi của công chức.

Hiện nay, công chức Nhà nước có biên chế khoảng 300 nghìn người, từ cấp huyện trở lên Trung ương và khoảng 250 nghìn người là cán bộ công chức cấp xã, chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng số trên 2 triệu người (đang được coi là cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước).

Để có cơ sở trả lương đúng cho công chức Nhà nước, cần tách bạch các khoản chi cho chính sách xã hội ra khỏi chi cho tiền lương; đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp, tách các khoản chi cho các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công ra khỏi quỹ lương công chức; tách lương của người làm việc trong các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội ra khỏi quỹ lương công chức. Sắp xếp lại bộ máy, xác định lại những người đúng là công chức để trả lương cho đúng…

Những người làm việc trong các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp không phải là công chức, không nên để họ hưởng lương trong quỹ lương công chức của Nhà nước. Lâu nay, việc để những người này hưởng lương trong quỹ lương công chức không những dễ “hành chính hoá” bộ máy, đoàn thể, các tổ chức xã hội, lại làm cho các tổ chức này ỷ lại vào quỹ lương có sẵn, không tích cực thực hiện các hoạt động của tổ chức mình. Hơn nữa, số người hưởng lương ngân sách do đó mà phình to, ngân sách không chịu nổi…

5. Chuyển từ trả lương theo người sang trả lương theo vị trí làm việc và hiệu quả công việc; khắc phục bình quân trong trả lương theo lối bình bầu, nhận xét cảm tính. Có giải pháp hữu hiệu về mặt thể chế, luật pháp để ngăn những khoản thu nhập bất hợp pháp ngoài lương, gắn với đấu tranh phòng, chống tham nhũng…

6. Phần chi cho tiền lương phải chiếm phần cần thiết, khoảng 20% ngân sách (hiện nay chỉ chiếm 8%), khắc phục tình trạng “gọt chân cho vừa giày” lâu nay, theo kiểu ngân sách bố trí được đến đâu thì cho tiền lương đến đó, gây ra sự trì trệ kéo dài nhiều năm nay. Đương nhiên, khi tính toán chi cho tăng lương, phải tính đến việc kiềm chế lạm phát…

Trong tình hình ngân sách còn eo hẹp, phải tính đến lợi ích lâu dài, có đủ tiền chi cho lương công chức. Nếu cần thiết, có thể giảm phần chi cho đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn Nhà nước (hiện đang chiếm tỷ lệ cao trong ngân sách, song thất thoát và lãng phí không nhỏ).

Không lẽ chi cho tiền lương công chức lại không quan trọng bằng chi cho đầu tư xây dựng một công trình?

Theo TS Thang Văn Phúc/VTC